RSS Amplifier

Hex’s Newsletter · Jul 31, 2026

Mười năm gió bụi

0
Sign in to vote or save

Hex · Hex’s Newsletter

Năm 1930, nhà máy dệt ở Marienthal đóng cửa. Làng Marienthal là một khu dân cư mọc lên quanh nhà máy, cách Vienna chừng ba mươi cây số. Chúng tồn tại bởi nhà máy tồn tại. Khi các dây chuyền dừng lại, phần lớn hộ gia đình ở đó cũng ngừng đi làm. Trợ cấp thất nghiệp của nền Cộng hòa Áo lúc bấy giờ đủ để người ta không chết đói, nhưng cũng chẳng thể hơn.

Gần hai năm sau, một nhóm nghiên cứu trẻ từ Vienna kéo về sống trong làng. Họ là Marie Jahoda, Paul Lazarsfeld và Hans Zeisel, đến với thiên kiến tin rằng ở đó đang là một điểm nóng. Họ chuẩn bị tinh thần để ghi chép về sự phẫn nộ, về những cuộc họp trong quán rượu. Bởi đó là một ngôi làng công nhân mất việc hàng loạt, giữa châu Âu đầu thập niên 1930 - thời điểm ai cũng tin rằng ai cũng đang bất mãn. Nhưng tất cả những gì họ quan sát được là một nhịp sống chậm lại đến mức mắt thường cũng quan sát được.

Chẳng có gì kịch tính xảy ra ở Marienthal. Phần lớn họ còn chẳng rời làng, cũng chẳng có hỗn loạn hay chống đối gì. Họ chỉ đơn giản mất dần khả năng dùng thời gian của chính mình. Gần cuối đợt điền dã, một người trong nhóm chợt để ý thấy đàn ông băng qua con đường chính của làng chậm hơn hẳn phụ nữ và cũng dừng lại dọc đường nhiều hơn hẳn. Họ lấy đồng hồ bấm giây để đo tốc độ đi và đếm số lần mỗi người dừng lại. Họ cũng để ý thấy người ta ít lui tới thư viện và các câu lạc bộ hơn, mặc dù có nhiều thời gian rảnh hơn.

Phụ nữ Marienthal cũng chịu cú sốc thu nhập như đàn ông, đôi khi còn nặng hơn vì họ là người phải xoay xở bữa ăn, nhưng phản ứng của họ lại khác. Sự khác biệt nằm ở chỗ họ vẫn phải làm những việc như lúc nhà máy chưa ngừng hoạt động, là vẫn phải nấu ăn, giặt giũ và phải có mặt ở một chỗ nhất định vào một giờ nhất định. Trẻ con cũng vậy, vì trường học vẫn giữ nhịp độ từng tuần đều đặn cho chúng. Chỉ những người đàn ông là trôi. Bởi phụ nữ và trẻ em mất thu nhập nhưng cấu trúc cuộc sống vẫn còn. Trong khi đó, đàn ông mất cả hai, và cái thứ hai là thứ đã hạ gục họ.

Sau gần 100 năm, ta thấy hiệu ứng làng Marienthal đang lan ra với cùng công thức: nhiều nhà máy tạm dừng hoạt động, các nhóm người gắn bó với chúng vẫn hoạt động dù mất chức năng, vì trợ cấp vẫn đủ nuôi sống họ. Những người trẻ đã nhiều tháng, có khi nhiều năm, không có việc làm và không có thu nhập ổn định, nhưng vẫn sống được. Có thể là nhờ gia đình, nhờ khoản tích lũy, nhờ chi phí thấp hoặc nhờ một nguồn nào đó không đều nhưng cũng không đứt. Họ không thật sự đang nguy hiểm đến mức gần thiếu ăn như làng Marienthal. Nhưng cảm giác họ mô tả lại giống hệt như Jahoda ghi chép về Marienthal: chậm lại, hẹp lại, và có cùng nỗi xấu hổ biết phải đặt lên đâu.

Cảm giác này rốt cuộc đến từ đâu?

Marie Jahoda dành gần trọn phần đời nghiên cứu còn lại để trả lời câu hỏi Marienthal đặt ra cho bà. Sau nhiều thập niên, bà rút ra câu trả lời đơn giản đến mức hiển nhiên, là người ta bị thế bởi họ mất công việc. Bà lập luận rằng, một công việc trả cho người ta hai thứ. Thứ nhất là tiền. Thứ hai là một cấu trúc thời gian áp đặt từ bên ngoài, tức việc phải có mặt ở một chỗ vào một giờ mình không tự chọn. Ở đó, bao gồm những mối tiếp xúc xã hội thường xuyên với người ngoài gia đình; bao gồm một cảm giác góp phần vào một mục tiêu tập thể lớn hơn bản thân (dù mục tiêu ấy có thể tầm thường); bao gồm một danh phận, một câu trả lời cho câu hỏi bạn là ai; và bao gồm việc buộc người ta phải hoạt động đều đặn, tức phải làm gì đó có tính lặp lại bất kể hôm nay thấy thế nào.

Jahoda gọi những thứ này là latent functions (chức năng tiềm ẩn) của việc làm, để phân biệt với chức năng hiển ngôn là thu nhập. Nó giải thích được một hiện tượng vốn không giải thích nổi bằng kinh tế học thuần túy: vì sao người thất nghiệp được trợ cấp đầy đủ vẫn suy sụp, và vì sao người về hưu có lương hưu vẫn thường trải qua một quãng chông chênh mà chính họ cũng thấy vô lý.

Như vậy, câu hỏi mà bạn đang tự đặt ra, “rằng rốt cuộc mình thiếu tiền hay thiếu sự công nhận” là một câu hỏi sai và khiến bạn không thể thoát ra. Bạn không thiếu tiền, vì bằng chứng nằm ngay trước mắt, rằng đã nhiều tháng, có khi nhiều năm, và bạn vẫn còn ở đây. Nếu tiền là vấn đề thật thì vấn đề đã nổ ra từ lâu chứ không âm ỉ thế này. Còn về sự công nhận, tôi sẽ quay lại kỹ hơn ở phần sau, vì nó là một cái bẫy tinh vi hơn nhiều so với vẻ ngoài của nó.

Khi mất việc, ta mất năm sáu thứ cùng lúc chứ không chỉ một. Nhưng Tiếng Việt, cũng như mọi ngôn ngữ khác của thế giới công nghiệp, chỉ cấp cho ta từ vựng để mô tả về trải nghiệm ấy một cách hạn hẹp. Nên bạn nói “em đang thất nghiệp”, người nghe hiểu thành “cậu ta đang thiếu tiền”, và cả hai bên cùng đi chệch khỏi các mất mát thực. Vấn đề vì vậy là thiếu ngôn ngữ để diễn đạt hơn là thiếu nguồn lực.

Việc có một định chế duy nhất đứng ra cung cấp cùng lúc thu nhập, giờ giấc, bạn bè, mục đích sống và danh phận cho một người trưởng thành là một cách sắp xếp rất mới, chỉ vừa phổ biến từ khi có nhà máy và văn phòng. Trước đó, những thứ ấy đến từ những nguồn khác nhau và không nguồn nào chịu trách nhiệm cho toàn bộ. Mùa vụ quy định thời gian, làng và họ hàng quy định tiếp xúc, phường hội quy định danh phận, tín ngưỡng quy định mục đích. Xã hội công nghiệp gom tất cả vào một chỗ, và vì tiện quá nên không ai nhớ rằng chúng từng rời nhau.

Bạn đang sống trong giai đoạn cái gói ấy bung ra. Điều bạn đang trải qua như một thất bại cá nhân, thực ra là hình dạng cụ thể mà một sự tháo rời ở tầm hệ thống in lên một cuộc đời cụ thể.

Thế hệ này lớn lên cùng một lời hứa có cấu trúc của một thuật toán: học cho tốt, lấy được tấm bằng, xin vào một chỗ khởi điểm, ở lại đủ lâu, rồi đi lên. Không ai ký tên dưới lời hứa đó, nhưng nó được lặp lại đủ nhiều và đủ đồng thanh từ nhà trường, gia đình lẫn thị trường lao động để trở thành một thứ gần như hợp đồng. Người trẻ phần nào tin rằng họ đã thực hiện sai hợp đồng nên tuột mất khỏi hệ thống, trong khi thực tế thị trường lao động đã không còn vận hành như vậy nữa.

Trước hết, chúng ta hãy bắt đầu từ câu hỏi: một tấm bằng, hay một dòng kinh nghiệm trong CV, thực chất chứng nhận điều gì?

Michael Spence đặt câu hỏi ấy vào đầu thập niên 1970 và đưa ra một câu trả lời khó chịu đến mức về sau nó mang lại cho ông giải Nobel. Trong mô hình của Spence, nhà tuyển dụng không quan sát được năng lực thật của ứng viên, còn ứng viên thì không có cách nào chứng minh trực tiếp. Nên thị trường vận hành bằng signaling: người có năng lực đầu tư vào những tín hiệu tốn kém mà người kém năng lực khó bắt chước, và nhà tuyển dụng đọc tín hiệu thay vì đọc năng lực. Mấu chốt mà mô hình này chỉ ra không phải là các tín hiệu giả, mà nó khám phá ra tín hiệu vẫn hoạt động tốt ngay cả khi nó không làm tăng năng lực của ai. Nó chỉ cần làm được đúng một việc là phân loại.

Hiểu như vậy, bạn sẽ thấy tổn thất thật của một khoảng trống dài trong hồ sơ hiện ra rõ hơn nhiều. Năng lực của bạn không giảm đi trong những tháng không đi làm; nếu bạn vẫn đọc, vẫn làm, và vẫn suy nghĩ, nó thậm chí còn tăng. Nhưng chất lượng tín hiệu thì giảm, bởi hệ thống tuyển dụng vốn đọc thời gian làm việc liên tục như một chỉ báo về khả năng được người khác chấp nhận, và một khoảng trống trong hồ sơ thì gửi đi thông điệp ngược lại bất kể phía sau nó có gì. Kory Kroft cùng Fabian Lange và Matthew Notowidigdo đã kiểm chứng điều này theo cách trực tiếp nhất có thể: họ gửi hàng loạt hồ sơ giả, giống hệt nhau ở mọi thứ trừ độ dài quãng thất nghiệp, vào các tin tuyển dụng thật ở một trăm thành phố Mỹ. Tỷ lệ được gọi phỏng vấn giảm rõ rệt theo độ dài quãng trống. Và điều đáng chú ý nhất là, phần lớn sự sụt giảm hứng thú chỉ phản ứng trong khoảng tám tháng đầu tiên.

Hãy đọc lại câu đó một lần nữa, nếu bạn đã ở ngoài thị trường lao động hơn tám tháng. Nó có nghĩa là phần thiệt hại lớn nhất về mặt tín hiệu đã xảy ra rồi, và tháng thứ ba mươi không làm bạn tệ đi bao nhiêu so với tháng thứ mười hai. Chiếc đồng hồ bạn tưởng luôn chạy và mỗi ngày lại lấy đi của bạn một ít, trên thực tế đã chạy hết phần dốc nhất của nó từ lâu. Hiểu điều này không làm tình hình dễ hơn, nhưng nó tháo bỏ bớt một áp lực sai lên một người vốn đã mang nhiều áp lực. Bạn cần hiểu rằng mình đang không trong một cuộc chảy máu liên tục cần chặn gấp bằng một loại công việc bất kì.

Cơn đau của bạn lệch hẳn khỏi thiệt hại vật chất mà bạn chịu. Bạn vẫn ăn được và sống được, nhưng bạn thấy mình đang mất đi thứ gì đó với tốc độ báo động. Cảm giác ấy không hoang tưởng. Bạn đang mất tín hiệu chứ không mất năng lực. Nhưng ý thức của bạn biết rằng hệ thống chỉ đọc tín hiệu chứ không đọc năng lực, nên bạn vẫn cảm thấy đau khổ. Nó cũng giống một người trên hoang đảo vẫn đau khổ vì trực thăng giải cứu không đọc được tín hiệu cho sự tồn tại của họ, dù cho chẳng ai phủ nhận sự tồn tại của họ cả.

Chuyện còn tệ hơn ở tầng cấu trúc. David Autor cùng các đồng nghiệp của ông đã mô tả hiện tượng thường được gọi là job polarization (phân cực việc làm): nhu cầu lao động tăng ở hai đầu - những việc đòi hỏi kĩ năng cao và những việc khó tự động hóa - trong khi lõm sâu ở khoảng giữa. Khoảng giữa là những công việc có quy trình rõ ràng, lặp lại được - bị mất cũng bởi chúng có thể lập trình được. Vấn đề với người trẻ không chỉ là tổng số việc làm ít đi, mà những thứ bị mất từng đóng vai trò những bậc thang đầu tiên.

Và tầng cuối cùng, cũng là tầng quyết định bạn nên làm gì với quãng thời gian đang có.

Năm 1921, Frank Knight vạch một đường kẻ vô tiền khoáng hậu trong kinh tế học, phân chia giữa risk và uncertainty. Risk là tình huống ta không biết kết quả nhưng biết phân phối xác suất của các kết quả, như tung xúc xắc: có thể tính toán và lập kế hoạch được. Uncertainty là tình huống ta thậm chí không có phân phối để tính, bởi tình huống ấy chưa từng lặp lại đủ nhiều để sinh ra thống kê. Với Knight, đó là lý do lợi nhuận của doanh nhân tồn tại, doanh nhân nhận thưởng cho việc hành động dưới uncertainty chứ không phải dưới risk.

Sự nghiệp của thế hệ trước phần lớn là một bài toán risk. Có những con đường đã được nhiều người đi qua, tỷ lệ thành bại quan sát được, và một kế hoạch mười năm là hợp lý vì thế giới mười năm sau vẫn dự đoán được. Sự nghiệp của bạn thì không như thế. Không ai có phân phối xác suất cho câu hỏi nghề nào còn tồn tại nguyên vẹn sau mười năm nữa, đơn giản vì chưa có đủ lần lặp lại để sinh ra dữ liệu đó. Hiểu bản chất của chuyện này không phải để rút ra rằng “vậy thì đừng lo”. Ta cần hiểu rằng, dưới uncertainty, lập kế hoạch chi tiết là hành vi sai về mặt kỹ thuật. Hành vi đúng dưới uncertainty là xây dựng các phương án (option): tích lũy những năng lực, quan hệ và tác phẩm giữ được giá trị dưới nhiều trạng thái tương lai khác nhau, thay vì tối ưu cho đúng một vài trạng thái ta suy đoán.

Như vậy, thay vì mơ hồ tự hỏi bản thân “liệu tôi có đang lãng phí đời mình”, bạn nên tự hỏi rằng “sau sáu tháng nữa, tôi sẽ nắm trong tay những option nào mà hôm nay tôi chưa có?”

Gần một thế kỷ trước, một nhà kinh tế học đã đoán được tình cảnh này. Năm 1930, giữa lúc Đại khủng hoảng đang mở màn, John Maynard Keynes viết một tiểu luận ngắn hình dung về đời sống của thế hệ cháu chắt mình, và dự đoán rằng vấn đề kinh tế theo nghĩa cổ điển - làm sao đủ ăn - sẽ được giải quyết trong vòng một trăm năm. Ông đã sai khá xa về số giờ làm việc; nhưng ông đã gây chú ý khi dự đoán rằng khi con người thoát khỏi sức ép kinh tế, họ sẽ đối diện với cái mà ông gọi là vấn đề thường trực của loài người, tức làm gì với sự tự do ấy. Khi ông nhìn quanh mình để tìm mẫu thử, ông đã dừng lại ở tầng lớp giàu có đương thời, những người đã không còn phải lo cơm áo. Keynes gọi họ là đội tiền trạm của nhân loại, những kẻ đi trước dò đường vào miền đất hứa, rồi kết luận rằng nhìn vào cách họ sống, viễn cảnh thật đáng thất vọng.

Bạn đang ở trong một phiên bản thu nhỏ và không tự nguyện của chính thí nghiệm ấy.

Edward Deci và Richard Ryan, trong suốt bốn thập niên đã xây dựng một lý thuyết cho rằng động lực bền của con người đứng vững trên ba trụ cột: autonomy, tức cảm giác hành động của mình xuất phát từ chính mình; competence, tức cảm giác mình đang làm được và có thể làm tốt hơn; và relatedness, tức cảm giác mình gắn với những người cụ thể và có ý nghĩa với họ. Điểm mạnh của lý thuyết này nằm ở chỗ nó dự đoán được những thứ phản trực giác, chẳng hạn vì sao thưởng tiền cho một việc người ta vốn thích lại có thể làm giảm hứng thú của họ với việc đó.

Vì vậy, chúng ta có thể thử đặt tình trạng của mình vào cái kiềng ba chân này để thấy hiện trạng. Autonomy của bạn đang ở mức cao nhất một người trưởng thành có thể có: không ai bảo bạn dậy lúc mấy giờ, làm gì hay gặp ai. Nhưng competence thì gần như bằng không, vì bạn đã mất toàn bộ cơ chế feedback; không có deadline, không có người nhận xét, không có kết quả phản hồi xem bạn đã làm tốt lên hay tệ đi. Còn relatedness thì sụp đổ trên một con đường dốc chậm và âm thầm, bởi phần lớn tiếp xúc xã hội của người trưởng thành đi kèm công việc, nên mất đi công việc thì các mối quan hệ ấy dù không đứt hẳn cũng loãng dần đến mức mờ nhạt.

Một cái chân cao vống lên trong khi hai chân kia sụp xuống thì không tạo ra tự do; nó tạo ra sự trôi dạt. Đây là lý do vì sao lời khuyên phổ biến rằng “cứ nghỉ ngơi đi, tận hưởng khoảng thời gian tự do này” dù nghe tử tế lại thực chất là một lời khuyên độc hại, bởi nó đề nghị bạn bơm thêm cái chân vốn đã quá cao và bỏ mặc hai cái đang gãy.

Bây giờ tôi quay lại với sự công nhận, như đã hẹn phía trên.

Khi mô tả tình trạng của mình, gần như ai cũng dùng đến một cụm nào đó xoay quanh việc không được công nhận. Nhưng nếu không thể bóc tách chúng, vậy ta sẽ tiếp tục mắc kẹt phía sau một nhãn dán về cảm giác. Có ít nhất hai thứ đã được gom vào “sự công nhận”.

Thứ nhất là status, tức vị trí tương đối của bạn trong một bảng xếp hạng bạn không kiểm soát. Đặc điểm quyết định của status là nó cấu tạo của tổng bằng không: nó đo bạn so với người khác, nên nó không thể tăng thêm cho tất cả mọi người. Bạn có thể làm đúng mọi thứ và status vẫn giảm, đơn giản vì những người quanh bạn cũng đang chạy. Truy đuổi status là truy đuổi một chiến thắng được định nghĩa bằng sự thua cuộc của người khác. Ở Marienthal, thậm chí khi cả làng đều sụp đổ về status, nhưng người ta vẫn so đo với nhau trên chính thực tại mới.

Thứ hai là relatedness, tức phải tồn tại những người cụ thể mà sự vắng mặt của bạn được họ chú ý tới. Thứ này không có tổng bằng không, bạn không cần làm người khác thua mình để nhận được nó. Bạn chỉ cần nhận một phần việc của nhóm nào đó, hứa hẹn deadline với ai đó vào thứ Sáu, dạy cho một người kém hơn mình một buổi mỗi tuần.

Phần lớn người trẻ thất nghiệp đều nghĩ mình đang thiếu status, trong khi thứ đang giết họ là thiếu relatedness. Hai thứ này gây ra cảm giác giống nhau nhưng có chi phí để cải thiện lại khác một trời một vực: status đòi hỏi bạn phải thắng một cuộc thi mà bạn hiện không có tư cách dự, relatedness đòi hỏi bạn phải có một người đợi bạn nộp bài. Nhầm cái thứ hai thành cái thứ nhất khiến người ta ngồi im chờ đủ điều kiện để quay lại đường đua, trong khi thứ họ cần thì nằm ngay trong tầm tay và rẻ đến mức đáng ngạc nhiên.

Điều này cũng trả lời luôn câu hỏi thực dụng nhất: làm sao giữ được tập trung khi không có việc gì bắt buộc phải làm.

Teresa Amabile và Steven Kramer đã thu thập hàng vạn nhật ký làm việc hằng ngày từ hàng trăm người ở nhiều công ty khác nhau, cho cùng một câu hỏi mỗi ngày về “việc gì đã xảy ra và họ thấy thế nào”. Khi đối chiếu những ngày tốt với những ngày tệ, thứ nổi bật lên hẳn không phải tiền lương, được khen ngợi hay áp lực, mà là progress - cảm giác đã nhích được một bước có thật với công việc mà mình thấy có ý nghĩa. Bước tiến ấy không cần lớn; những bước nhỏ đủ để tạo ra khác biệt, miễn là chúng có thật và nhìn thấy được.

Khi điều trị trầm cảm, người ta phát hiện rằng hành động thường đi trước tâm trạng chứ không phải ngược lại, và việc khôi phục hoạt động đều đặn có thể cải thiện tâm trạng ngay cả khi người ta chưa hề cảm thấy muốn thay đổi. Như vậy, việc thiếu vắng công việc sinh ra được sự gia tăng (increment) nhìn thấy được, hay các công việc được người khác để tâm, đã làm mất động lực. Rồi từ đó mới ảnh hưởng tới tâm trạng. Tập trung vốn là thứ mọc ra từ các công việc có những điều kiện trên chứ không phải một phẩm chất tồn tại độc lập mà người ta rèn được bằng ý chí. Bạn không mất khả năng tập trung, mà đang không có gì để tập trung, khiến tâm trí bị nhiễu động.

Đó cũng là lý do mọi ứng dụng quản lý thời gian đều thất bại với người thất nghiệp dù hữu ích với người đi làm. Chúng được thiết kế để phân bổ sự chú ý giữa những việc đã có sẵn người kiểm tra và có sẵn hạn nộp. Nhưng bản thân chúng thì không đóng được vai trò của người kiểm tra và deadline.

Nên nếu chỉ được đề nghị một thứ duy nhất cho quãng thời gian này, tôi sẽ không đề nghị bạn kỷ luật hơn. Tôi sẽ đề nghị bạn tìm cho bằng được một việc có ba tính chất: nó sinh ra một sản phẩm nhìn thấy được dù nhỏ, nó lặp lại theo một nhịp cố định, và có ít nhất một người biết nó tồn tại.

Gustave Caillebotte, Jeune homme à sa fenêtre (1876). Bức vẽ một người đàn ông trẻ, ăn mặc tử tế, đứng quay lưng trong một căn hộ khá giả, nhìn xuống đường phố đang chuyển động mà không có mình trong đó. Không nghèo nhưng cũng không có gì để làm.

Các bài viết self-help chuyên đi kể về những người vĩ đại đã theo đuổi đam mê mà không màng đến tiền bạc, theo tôi, là một trong những thể loại gây hại nhất từng được viết. Không phải vì nó khuyến khích sai, mà vì nó nói dối về mặt sự kiện khiến độc giả hiểu sai về bài học rút ra.

Charles Darwin trở về từ chuyến đi trên tàu Beagle năm 1836 và xuất bản On the Origin of Species vào cuối năm 1859. Hơn hai mươi năm nằm giữa hai mốc đó, ông không giữ một chức vụ ăn lương nào. Có một quãng dài trong đó - khoảng tám năm - ông dành gần như trọn vẹn cho việc phân loại hà biển, thứ sinh vật bám vào đáy tàu mà ngay cả với giới tự nhiên học đương thời cũng khó gọi là hấp dẫn, và kết quả là bốn tập chuyên khảo mà đến nay cũng chẳng mấy ai quan tâm. Nhìn từ bên ngoài, đó là một người đàn ông trung niên không nghề nghiệp, ngồi trong nhà ở nông thôn, làm một việc không ai hiểu, suốt nhiều năm liền. Có một mẩu chuyện được truyền lại trong nhà Darwin, rằng một trong các con trai ông sang chơi nhà hàng xóm và hỏi bạn mình rằng bố cậu làm hà biển ở đâu, vì cậu bé lớn lên trong niềm tin rằng mọi ông bố đều làm hà biển.

Darwin làm được điều đó vì ông đứng trên một cái sàn. Gia đình ông giàu, cha ông vừa là bác sĩ vừa cho vay, vợ ông thuộc dòng họ Wedgwood, và bản thân ông đầu tư khoản thừa kế của mình khá cẩn thận. Ông chưa bao giờ phải chọn giữa nghiên cứu và tiền thuê nhà. Bỏ chi tiết đó ra khỏi câu chuyện để kể lại thành huyền thoại về lòng đam mê là một hành vi bóp méo, và tệ hơn, nó khiến người đọc nghĩ rằng thứ mình thiếu là ý chí trong khi khác biệt thật sự nằm ở cấu trúc vật chất.

Khi trả cái sàn ấy về lại câu chuyện, ta học được điều quan trọng hơn, cũng là thông điệp tôi muốn truyền tải qua bài viết này.

Cùng với cái sàn nâng đỡ từng bước cho mình, Darwin còn có một kỷ luật thời gian nghiêm khắc đến mức tàn nhẫn. Ở Down House, ngày của ông được chia thành những khối cố định, đi bộ vào những giờ cố định trên cùng một lối mòn quanh nhà, làm việc theo những phiên ngắn, và tổng số giờ làm việc mỗi ngày ít hơn nhiều so với hình dung của chúng ta về một thiên tài. Ông có tự do tuyệt đối, và ông đã lập tức dùng phần lớn tự do đó để tự đặt mình vào một cái lồng. Nếu Darwin chỉ có tiền mà không có lịch trình thì hai mươi năm ấy đã không sinh ra cái gì.

Ludwig Wittgenstein, vị triết gia quan trọng hàng đầu của triết học hiện đại, cung cấp một phiên bản tham khảo khác còn cực đoan hơn. Ông thừa kế một trong những gia sản lớn nhất châu Âu và cho đi gần như toàn bộ chúng sau Thế chiến thứ nhất. Rồi trong gần một thập niên sau khi công bố tác phẩm đã làm ông nổi tiếng, ông đi dạy tiểu học ở mấy ngôi làng hẻo lánh của vùng Hạ Áo, có một quãng phụ việc làm vườn cho một tu viện, và sau đó bỏ nhiều năm để thiết kế một ngôi nhà cho chị gái mình. Về sau, khi đã là giáo sư ở Cambridge, ông rời trường trong chiến tranh để đi làm hộ lý bệnh viện. Đối với các hệ thống phân loại nghề nghiệp ngày nay, người ta sẽ nhìn vào đó và thấy một hồ sơ không đáng tin cậy.

Baruch Spinoza, một trong những triết gia duy lý quan trọng nhất thế kỷ 17, thì mài kính để sống. Đó là một nghề có thu nhập thật và tay nghề thật. Ông còn có thêm một khoản trợ cấp hằng năm từ di sản của một người bạn, và chi tiết đáng nhớ nhất về khoản ấy là ông đã thấy nó là quá nhiều và thương lượng để nó thấp xuống. Năm 1673, ông được mời giữ ghế giáo sư triết học ở Heidelberg, tức được mời bước chỗ mà thể chế cấp danh phận cho việc làm triết của những người như ông, và ông từ chối. Lý do ông đưa ra là chỗ ấy sẽ ràng buộc quyền tự do phát biểu của mình theo những cách ông không kiểm soát được. Ông chọn ở lại với chiếc bàn mài kính và với một mức sống mà người đương thời đều thấy là dưới tầm ông.

Trở về phương Đông, hình mẫu ấy còn cổ hơn và được ghi lại theo cách đáng trân trọng hơn. Đào Tiềm làm quan huyện được khoảng tám mươi ngày thì bỏ về, để lại câu nói đã thành điển tích rằng ông không thể vì năm đấu gạo mà khom lưng. Ông về làm ruộng, làm thơ, sống nghèo, và trở thành một trong những cái tên bền nhất của thi ca Trung Hoa. Điều đáng chú ý về Đào Tiềm không phải là ông từ bỏ tiền bạc rồi hạnh phúc, bởi ông vẫn phải sống, và đời ông có những quãng túng quẫn thật. Thứ ta thấy là truyền thống văn hóa đã công nhận trạng thái của ông và cho nó một cái tên đẹp. Người ta không gọi ông là kẻ thất nghiệp. Người ta gọi đó là quy ẩn.

Đây là điểm tháo gỡ được khúc mắc của chúng ta.

Nguyễn Du sinh năm 1765 trong một gia đình mà theo tiêu chuẩn đương thời là đỉnh của thang xã hội; cha ông là Nguyễn Nghiễm, làm quan đến chức Tham Tụng, tức chức cao nhất trong hàng quan văn đương thời. Rồi cha mất, mẹ mất, và đến năm mười ba tuổi ông mồ côi cả hai. Đến khi ông vừa đủ tuổi để tự bước đi trên con đường của dòng tộc thì toàn bộ trật tự vạch ra con đường đó sụp xuống: triều đại mà dòng họ ông phục vụ tan rã. Toàn bộ những khúc gỗ đã dựng lên cái thang xã hội đẹp đẽ về cuộc đời Nguyễn Du bị xóa sạch.

Quãng tiếp theo trong đời ông, sử liệu ghi lại không đầy đủ và các nhà nghiên cứu đến giờ vẫn chưa thống nhất được về mốc thời gian lẫn chi tiết. Điều được đồng thuận là nó kéo dài khoảng một thập niên, phần lớn trôi qua ở quê vợ vùng Thái Bình - ăn nhờ ở đậu nhà người anh vợ - rồi sau đó là quê cha dưới chân núi Hồng. Không chức phận, không sản nghiệp, không có gì để khai báo với đời; các tài liệu chép lại quãng ấy bằng những câu chữ trần trụi, đói không có cơm, rét không có áo. Trong thơ chữ Hán của mình, ông nhiều lần trở lại với quãng đời ấy bằng hình ảnh gió và bụi, những thứ bị thổi đi mà không tự chọn được hướng.

Chính ông gọi mười năm đó là mười năm gió bụi - thập tải phong trần.

Điều đáng chú ý về bốn chữ này là, nó không phải do hậu thế phong tặng. Người đặt tên cho mười năm ấy là chính người đã sống qua nó, trong lúc vẫn chưa hề biết đời mình rồi sẽ đi về đâu.

Hãy chú ý cấu tạo của nó. Nó không mô tả một thất bại mà mô tả một điều kiện. Nó không quy trách nhiệm cho người phải trải qua nó, và cũng không tô vẽ rằng quãng ấy dễ chịu. Nhưng nó đã làm được một việc ý nghĩa, là công nhận rằng có những quãng đời mà một con người bị đặt ra ngoài mọi hệ thống đương thời, và rằng quãng ấy vẫn là một phần chính đáng của một đời người chứ không phải một lỗ thủng giữa hai đoạn có ý nghĩa.

Chúng ta hiện không có từ nào như thế, hay nói đúng hơn là không có sự công nhận cho trạng thái cuộc đời ấy một cách tử tế. Từ tiếng Việt duy nhất hiện đại dán cho tình trạng của người không có việc làm là “thất nghiệp”: nó lấy nghiệp làm gốc, lấy mất làm động từ, và mô tả một người bằng đúng thứ họ không có. Nói “tôi đang thất nghiệp” là tự khai báo mình như một chỗ trống. Nói “tôi đang trong mười năm gió bụi của mình” là một câu hoàn toàn khác về mặt cấu trúc, dù mô tả cùng một tình trạng vật lý. Nó có chủ thể, có thời gian, có một hàm ý rằng quãng này sẽ kết thúc và quan trọng nhất, là sự công nhận cho một quãng đời chính đáng.

Đây không phải chuyện chơi chữ. Cách một tình trạng được đặt tên quyết định người sống trong tình trạng ấy có thể nghĩ gì về bản thân. Một xã hội chỉ có từ vựng tiêu cực cho một trạng thái sẽ buộc những ai rơi vào trạng thái đó phải tự hiểu về bản thân theo nghĩa tiêu cực, kể cả khi thực tế vật chất của họ hoàn toàn ổn. Thứ họ thiếu không phải tiền và cũng không phải lời khen, mà là một mệnh đề đúng để nói về đời mình. Hai trăm năm trước, Nguyễn Du đã để lại cho hậu thế một mệnh đề, cứu sống nhiều thế hệ cuộc đời, nhưng thật tiếc vì Việt Nam hiện đại lại có ngày càng ít người đề cập tới nó.

Suốt mười năm ấy, chính Nguyễn Du cũng không rõ về tương lai của mình. Không có bất kỳ khoảnh khắc nào trong mười năm đó mà ông có thể tự trấn an mình rằng cái này rồi sẽ dẫn tới đâu đó. Từ bên trong, mười năm gió bụi không hề trông giống một giai đoạn chuẩn bị cho kiệt tác; nó trông giống hệt thứ mà bạn đang thấy khi nhìn vào đời mình lúc này - một quãng dài không có hình dạng, không có ai xác nhận, và không có gì bảo đảm.

Ý nghĩa được gán vào sau. Nó luôn được gán vào sau.

Để bài này không trượt sang phía lãng mạn hóa việc không đi làm, tôi sẽ kể thêm vài câu chuyện nữa.

Franz Kafka, một trong những tác giả có tầm ảnh hưởng nhất thế kỷ XX, làm việc ở một viện bảo hiểm tai nạn lao động tại Praha suốt mười mấy năm cho đến gần cuối đời. Ông than phiền về công việc đó trong nhật ký và thư từ với một cường độ khiến người đọc tưởng ông sắp bỏ đến nơi, nhưng ông không bỏ, và theo những gì đồng nghiệp ghi lại thì ông còn làm khá tốt. Ca làm của ông chạy từ tám giờ sáng đến hai giờ chiều, và toàn bộ tác phẩm của Kafka được viết trong phần ngày còn lại. Chỗ làm trước đó ở một công ty bảo hiểm Ý có giờ giấc vắt kiệt buổi tối của ông, và ông đã từ bỏ nó chính vì lý do ấy. Ông gọi công việc mới là Brotberuf, nghề kiếm bánh mì. Việc viết nhờ vậy không trở thành nghề kiếm sống, nghĩa là không bao giờ phải chiều ai, không bao giờ phải xong đúng hạn và cũng chẳng cần có bán được hay không.

Đặt Kafka cạnh Darwin, ta sẽ thấy có chút đối nghịch nhưng đều dẫn về cùng một chỗ. Vấn đề không phải là có đi làm hay không đi làm. Quan trọng là ai cũng phải có một cái sàn, và biết rõ cái sàn ấy làm bằng gì. Darwin có sàn bằng gia sản, Kafka tự dựng sàn bằng một công việc nhàm chán, Spinoza dựng bằng một cái nghề thủ công, Đào Tiềm bận rộn với mấy sào ruộng và mức sống thấp mà ông biết rõ khi lựa chọn.

Nên nếu bạn đang đọc đến đây với cảm giác rằng những người kia là ngoại lệ còn mình thì không, tôi đề nghị bạn thử một bài kiểm tra. Cái sàn của bạn hiện nay làm bằng gì? Tiền tiết kiệm, gia đình chu cấp, các khoản thu nhập gián đoạn, chi phí sống thấp, hay nhiều thứ kết lại? Nó còn chịu được bao nhiêu tháng nữa nếu phải đo bằng một con số chính xác? Và ai đang trả cho nó?

Câu hỏi thứ ba là câu hỏi khó nhất, và tôi nghĩ phần lớn cảm giác bạn đang trải nghiệm như một nỗi xấu hổ thực ra nằm ở đó chứ không nằm ở chuyện không có việc làm. Nếu cái sàn của bạn là cha mẹ, thì im lặng về nó không làm nó nhẹ đi mà chỉ làm nó biến thành một món nợ không có kỳ hạn và không có con số, tức là hình thức nợ tệ nhất trong mọi hình thức nợ. Biến nó thành một thỏa thuận có thời hạn nói ra được - sáu tháng, một năm, đến mốc nào thì xét lại - tuy không xóa được món nợ, nhưng nó chuyển tình trạng của bạn từ chỗ ăn bám không kỳ hạn sang chỗ được cấp vốn có điều kiện. Đó là một sự khác biệt về mặt tâm lý lớn hơn nhiều so với vẻ ngoài của nó, và nó nằm hoàn toàn trong tầm tay bạn.

Điểm chung của mọi cái tên nổi tiếng trong mục này không phải là họ coi thường tiền bạc. Không ai trong số họ coi thường tiền bạc cả. Điểm chung là họ biết chính xác mình đang đứng trên cái gì, và vì họ biết nó là gì nên họ tận dụng được nó thay vì mặc cảm về nó.

Share

Một bài viết chỉ làm mỗi việc trấn an thì rốt cuộc cũng chỉ là một liều thuốc ngủ dài mấy nghìn chữ. Đã đến lúc để chúng ta nhìn vào phần khó chịu.

Lựa chọn phổ biến nhất của những người đang muốn có lại tính chính danh là họ mua sự chuẩn bị. Người ta ghi danh một khóa học, rồi khóa thứ hai, rồi một chứng chỉ, rồi một lộ trình học sáu tháng, và mỗi lần như vậy đều có cảm giác bản thân đang làm gì đó đúng đắn. Vấn đề không nằm ở việc đi học, mà ở việc bạn đã liên tục “tiêu thụ cảm giác chuẩn bị” chỉ để có cảm giác tiến bộ y hệt như tiến bộ thật, trong khi không sinh ra bất kỳ sản phẩm nào. Cách để tự kiểm tra xem mình có rơi vào xu hướng nghiện tiêu thụ sự chuẩn bị này không rất đơn giản. Hãy tự hỏi bản thân rằng sau ba tháng, bạn có làm ra thứ mà người khác có thể nhìn, đọc, dùng hoặc phản đối hay không? Nếu không, ba tháng ấy đã trôi qua trong một dạng bận rộn ảo không để lại gì, dù nó vẫn tốn công thật.

Đi kèm với nó là sự trì hoãn được ngụy trang thành trình tự. Nó theo cấu trúc của một câu điều kiện: khi nào có việc rồi tôi sẽ bắt đầu, khi nào ổn định rồi tôi sẽ viết, khi nào đầu óc nhẹ hơn tôi sẽ tham gia dự án kia. Câu ấy nghe hợp lý vì nó giả định rằng trạng thái tinh thần phải đến trước hành động, trong khi mọi thứ ta biết về kích hoạt hành vi (behavioral activation) đều nói ngược lại. Mỉa mai là, bạn đang có nhiều thời gian hơn bất kỳ giai đoạn nào khác trong đời, và bạn đang dùng chính sự dư dả đó làm lý do để đợi.

Một nỗ lực tự lừa bản thân còn tinh vi hơn hai cái trên là dồn sức tối ưu CV thay vì xây một body of work. CV là một tài liệu chỉ có nghĩa bên trong một hệ thống tuyển dụng, được đọc trong vài chục giây bởi một người đang loại bớt hồ sơ, và như đã nói ở mục hai, nó có nhiệm vụ truyền đi tín hiệu chứ không phải năng lực. Một body of work - một chuỗi những thứ bạn làm ra và công bố, dù nhỏ đến đâu - thì hoạt động theo logic khác hẳn: nó không cần ai cho phép mới tồn tại, nó tích lũy thay vì hết hạn, và nó là bằng chứng trực tiếp chứ không phải tín hiệu gián tiếp. Người thất nghiệp dành ba tháng sửa CV và người thất nghiệp dành ba tháng làm ra mười hai thứ nhỏ rồi đăng lên tuy có cùng một dòng trống trong hồ sơ, nhưng ở tháng thứ tư họ ở hai vị trí không so sánh được với nhau.

Nhưng cái ngụy trang giỏi nhất là việc nhầm lẫn giữa rảnh rỗi với có lựa chọn (optionality). Rất nhiều người tự nhủ rằng họ đang giữ sự lịch trình trống để sẵn sàng cho cơ hội, nghe qua giống với việc giữ option. Nhưng option không phải là trạng thái trống; nó là tài sản chưa có giá trị. Bạn có được nó nhờ trả một khoản phí nào đó từ trước, và bạn thu lại giá trị khi nó cho phép bạn làm những việc mà những người chưa trả phí không được phép. Trống không phải là option, trống chỉ là trống. Người dành hai năm học một kĩ năng khó rồi thất nghiệp đang có trong tay option; người dành hai năm chờ đợi thì không có gì cả.

Cuối cùng, là thứ tới chậm nhất nhưng cũng là thứ nguy hiểm nhất, bởi nó không có triệu chứng rõ ràng nào cho đến lúc đã nhiễm sâu. Marienthal từ năm 1933 đã tiết lộ về nó: người ta bỏ thư viện, bỏ câu lạc bộ và từ bỏ cả việc ra ngoài. Tức họ chọn sự cô lập khi thất nghiệp. Cô lập không đến như một quyết định mà đến như một chuỗi những lần từ chối hợp lý. “Hôm nay mệt”, “tháng này không có tiền cà phê”, và quan trọng nhất, họ ngại phải trả lời câu hỏi dạo này làm gì. Chính những câu hỏi oái oăm mà người ta không còn tư cách hay cú pháp để trả lời mới là thứ giữ họ ở nhà. Và vì mỗi lần từ chối đều có lý do chính đáng riêng nên người ta không xem đó là hành vi báo động, cho đến khi họ nhìn lại và thấy đã sáu tháng họ không gặp ai ngoài người trong nhà.

Nếu bạn nhận ra mình trong đoạn vừa rồi, hãy chú ý đến quan hệ nhân quả ở đây, vì nó ngược với trực giác đã dẫn bạn tới các lựa chọn đó. Bạn không tránh gặp người khác vì bạn đang tệ, bạn đang tệ dần vì bạn tránh gặp người khác. Để giải thoát bản thân khỏi tình huống này, đừng cố đi tìm câu trả lời oai hơn cho câu hỏi ấy, mà hãy hiểu rằng không một ai hỏi vì muốn thẩm định giá trị của bạn cả. Họ hỏi vì đó là câu mở đầu phổ biến mà nền văn hóa hiện tại của chúng ta hướng dẫn mỗi hai người trưởng thành gặp nhau. Bạn đang không đối mặt với sự phán xét, mà với các khiếm khuyết trong ngôn ngữ.

Quay lại Down House lần cuối, ghé thăm một chi tiết tôi đã cố tình không đề cập tới ban nãy.

Hơn hai mươi năm trống của Darwin hoàn toàn vô hình. Ngoài một ít thư từ qua lại với vài nhà tự nhiên học khác, không ai trên đời biết chuyện gì đang diễn ra trong căn phòng đó, và bản thân Darwin cũng không có cách nào để cho người khác biết rõ về công việc của mình ngay cả cả khi ông muốn. Kênh duy nhất phù hợp thời ấy là các hội khoa học và các nhà xuất bản, tức là những định chế có người gác cửa, mà người gác cửa sẽ đọc danh phận của bạn trước khi đọc nội dung, nên Darwin cũng “không có cửa”. Mười năm gió bụi của Nguyễn Du còn triệt để hơn, thậm chí không có một dòng ghi chép đương thời nào về việc ông đã sống qua nó thế nào.

Đây là chỗ mà tình thế của bạn khác họ, một sự khác biệt tích cực.

Lần đầu tiên trong lịch sử, một người không có chức danh, không có định chế bảo trợ và không có ai giới thiệu vẫn có thể đưa thứ mình làm đến trước mặt người khác. Cơ chế phân phối bằng thuật toán có rất nhiều khuyết điểm mà tôi sẽ nói ngay sau đây, nhưng nó có một đặc tính đáng giá với người ở tình trạng của bạn, là nó không kiểm tra giấy tờ. Nó đọc output. Một người thất nghiệp hai năm và một người đang giữ chức vụ cao cùng đăng một thứ lên nền tảng được thuật toán đối xử theo cùng một cách, Đây là điều chưa từng xảy ra trong bất kỳ hệ thống phân phối nào trước đó.

Nghĩa là, cái trạng thái không tên mà bạn đang sống trong đó, ngày càng thiên về lựa chọn thay vì số phận. Darwin không có cách nào để hai mươi năm ấy bớt vô hình đi. Bạn thì có, với chi phí gần bằng không.

Tuy vậy, kênh phân phối này có áp lực chọn lọc riêng của nó, và nó không chọn ủng hộ những giá trị lâu dài. Nó thưởng cho tần suất, cho sự dễ tiêu hóa, cho phản ứng cảm xúc nhất thời, và nó trừng phạt những thứ cần thời gian để hiểu. Ta bước vào đó với tâm thế cần sự chú ý, sẽ thất vọng nhận ra mình vừa đổi một ông chủ cũ lấy một ông chủ mới khắt khe hơn, đòi hỏi liên tục hơn, và không trả lương. Tệ hơn nữa, ông chủ mới này trả công bằng status, thứ có tổng bằng không và không bao giờ đủ.

Nên khi ta muốn dùng những kênh mới này, ở tình trạng thất nghiệp, đừng cố theo đuổi sự chú ý. Nó có hai công dụng khác hữu ích và quan trọng hơn.

Thứ nhất, nó buộc bạn phải hoàn thành. Để công bố, bạn cần gói ghém thành quả của mình. Và khác biệt giữa một người có mười hai bài đã đăng với một người có bốn mươi bản nháp không nằm ở tài năng mà ở khác biệt về kĩ năng là khả năng đóng gói sản phẩm - điều chỉ học được bằng cách thực hành lặp lại. Việc công bố ở đây đóng vai trò của deadline mà công việc từng cung cấp.

Thứ hai, cũng là thứ đáng giá nhất: nó là cách rẻ nhất để mua relatedness. Bạn không cần tới hàng nghìn người theo dõi. Những nỗ lực thấy được của bạn sẽ được năm bảy người cụ thể xem và đọc. Họ sẽ nhận ra khi bạn dừng và có thể sẽ nhắn để hỏi. Đó là điều bạn cần, và bạn có được nó mà không cần ganh đua với ai như theo đuổi status.

Và một lý do cuối cùng, mang tính thời sự, mà tôi muốn thuyết phục bạn nghiêng hẳn cán cân về phía body of work thay vì CV.

Những gì AI đang làm với thị trường lao động trong vài năm qua tác động mạnh nhất và sớm nhất lên các loại công việc được mô tả là các bậc thang đầu tiên: những việc có quy trình rõ ràng, đầu ra mô tả được, và vì mô tả được nên tự động hóa được. Điều này làm cho tình hình của người trẻ khó hơn thật, nhưng nó cũng kéo theo một hệ quả: khi năng lực quy trình trở nên ngày càng rẻ rúng, thứ còn giữ giá là những thứ khó đặc tả - khiếu thẩm định, gu, khả năng chọn đúng vấn đề, khả năng đánh giá xem đâu là chuyện đáng làm. Ngắn gọn là taste & judgment. CV bất lực trong việc thể hiện các năng lực này, nhưng một chuỗi body of work lại làm rất tốt.

Nói cách khác, tín hiệu mà bạn đang mất đi vì khoảng trống trong hồ sơ cũng là tín hiệu đang mất giá trên thị trường tuyển dụng. Còn loại bằng chứng mà quãng thời gian này cho phép bạn tích lũy lại là loại đang lên giá. Insight này không giúp thay đổi tình trạng của bạn chỉ vì bạn biết nó, nhưng bạn sẽ thấy quyền chọn đang ưu ái cho bạn hơn bất kì thế hệ nào khác trong bất kì giai đoạn lịch sử nào khác. Miễn là bạn có thể hành động.

Trong tất cả những gì nhóm của Jahoda ghi lại ở ngôi làng ấy, chi tiết ở lại với tôi lâu nhất không phải là những bước chân được bấm giờ, mà là cái thư viện.

Marienthal có một thư viện của hội công nhân, và trong những năm ấy nó còn được cấp thêm sách từ một thư viện khác vừa sáp nhập. Quan trọng hơn, trước kia mượn sách phải trả phí, còn bây giờ thì hoàn toàn miễn phí. Như vậy, chúng ta có một ngôi làng nơi gần như toàn bộ đàn ông không còn phải đi đâu vào buổi sáng và dư thừa thời gian, vừa có nhiều sách hơn và chúng còn được cho mượn miễn phí.

Số lượt mượn từ năm 1929 đến năm 1931 giảm 48,7 phần trăm.

Số người còn lui tới thư viện giảm; và trong số ít ỏi những người vẫn trung thành ở lại, số sách mỗi người mượn cũng giảm - từ 3,23 cuốn năm 1929 xuống 2,3 rồi còn 1,6 vào năm 1931. Người thủ thư kể rằng lượt mượn sách ở Marienthal, cũng như ở mọi thư viện khác, ban đầu vốn dồn vào chủ nhật và ngày lễ, nhưng rồi điều đó không còn đúng ở đó nữa. Như vậy, không chỉ người dân đọc ít đi, tuần lễ của họ cũng đã phẳng ra.

Như vậy, một người có công việc ổn định có nhịp sống ổn định vốn có hứng thú để làm nhiều việc như đọc sách, sẽ thấy bản thân “không có thời gian làm vậy”. Nên khi họ nhìn vào những người thất nghiệp, họ đơn giản thắc mắc vì sao người ta không “dành thời gian để làm chuyện có ích, như là đọc sách”, giả định rằng người thất nghiệp thậm chí sở hữu đặc quyền mà họ không có là dư dả thời gian.

Cách giải thích dễ nhất là khi người ta mất việc, họ chán nản, mất tinh thần, không còn thiết gì. Nhưng tôi nghĩ có một cách giải thích chính xác hơn và giải đáp một cách hiểu sâu sắc hơn ngoài tinh thần.

Đọc một cuốn sách dày là một hành vi giả định tương lai. Khi mở trang đầu tiên, bạn đang ngầm đặt cược rằng sẽ tồn tại một phiên bản của bạn ở mai sau, đủ nguyên vẹn để đọc đến trang cuối, và rằng người đó sẽ làm được gì đó với những gì vừa đọc. Trồng một luống rau cũng vậy. Ghi danh vào một câu lạc bộ cũng vậy. Mọi hành vi kéo dài đều là một khoản đầu tư vào một con người chưa tồn tại, và người ta chỉ đầu tư khi còn tin rằng con người ấy sẽ đến.

Thứ mà thất nghiệp kéo dài lấy đi không phải chỉ động lực, kỷ luật, hay lòng tự trọng. Nó lấy đi tương lai theo nghĩa vận hành - một lịch trình cụ thể ở mai sau mà giờ đây người ta đang hành động thay mặt cho nó. Và khi công việc biến mất, tương lai ấy co lại. Toàn bộ hành vi bạn từng làm dựa trên một giả định tương lai giờ đây mất chỗ dựa vì tương lai giả định ấy đã biến mất. Hiện tượng này người ngoài nhìn vào sẽ thấy như sự lười nhác, còn người trong cuộc thì không hiểu nổi vì sao họ mất năng lượng để tiếp tục duy trì những việc họ vẫn thường làm.

Như vậy, đề nghị của tôi rằng bạn nên làm “một việc nhỏ có sản phẩm nhìn thấy được, lặp lại theo nhịp cố định, có ít nhất một người biết nó tồn tại” thực chất không phải một công thức năng suất. Đó là cách rẻ nhất tôi biết để chế tạo lại một tương lai, dù chúng chỉ dài cỡ một vài tuần.

Nguyễn Du sống hết mười năm gió bụi ấy mà không có bằng chứng nào cho thấy chúng sẽ dẫn tới đâu. Darwin bước vào năm thứ tám cùng hà biển mà không biết mình đang ở giữa cái gì. Wittgenstein sau khi đã cho hết gia sản, đứng trong lớp học ở một ngôi làng miền núi, đã viết xong cuốn sách mà ông tin là đã giải quyết xong triết học, và không có lý do gì để nghĩ rằng mình sẽ còn quay lại. Không ai trong số họ được trấn an. Điều duy nhất họ có, giống với điều duy nhất bạn cũng đang có, là một cái sàn cho phép họ tiếp tục làm một việc gì đó.

Mười năm gió bụi là một cái tên ta đặt cho giai đoạn trước đó, khi đang đứng ở phía sau nhìn lại. Khi ta đang đứng bên trong nó, nó không có tên và không bao giờ có.

Đừng cố đi tìm kiếm ý nghĩa của một giai đoạn vốn có ý nghĩa duy nhất là thiếu vắng ý nghĩa. Hãy hỏi những câu cụ thể hơn. “Lần cuối cùng tôi có một thành quả cụ thể có người thấy là khi nào?” chẳng hạn.

Chúc may mắn.

Share Hex’s Newsletter

[1] Jahoda, M., Lazarsfeld, P. F., & Zeisel, H. (1933). Die Arbeitslosen von Marienthal: Ein soziographischer Versuch über die Wirkungen langandauernder Arbeitslosigkeit. Leipzig: Hirzel. (Bản tiếng Anh: Marienthal: The Sociography of an Unemployed Community, 1971.)

[2] Jahoda, M. (1982). Employment and Unemployment: A Social-Psychological Analysis. Cambridge University Press.

[3] Spence, M. (1973). Job Market Signaling. The Quarterly Journal of Economics, 87(3), 355–374.

[4] Kroft, K., Lange, F., & Notowidigdo, M. J. (2013). Duration Dependence and Labor Market Conditions: Evidence from a Field Experiment. The Quarterly Journal of Economics, 128(3), 1123–1167.

[5] Autor, D. H., Katz, L. F., & Kearney, M. S. (2006). The Polarization of the U.S. Labor Market. American Economic Review, 96(2), 189–194.

[6] Autor, D. H., & Dorn, D. (2013). The Growth of Low-Skill Service Jobs and the Polarization of the US Labor Market. American Economic Review, 103(5), 1553–1597.

[7] Knight, F. H. (1921). Risk, Uncertainty and Profit. Boston: Houghton Mifflin.

[8] Keynes, J. M. (1930). Economic Possibilities for our Grandchildren. In Essays in Persuasion (1931). London: Macmillan.

[9] Deci, E. L., & Ryan, R. M. (2000). The “What” and “Why” of Goal Pursuits: Human Needs and the Self-Determination of Behavior. Psychological Inquiry, 11(4), 227–268.

[10] Amabile, T., & Kramer, S. (2011). The Progress Principle: Using Small Wins to Ignite Joy, Engagement, and Creativity at Work. Harvard Business Review Press.

[11] Jacobson, N. S., et al. (1996). A Component Analysis of Cognitive-Behavioral Treatment for Depression. Journal of Consulting and Clinical Psychology, 64(2), 295–304.

[12] Browning, M., & Heinesen, E. (2012). Effect of Job Loss Due to Plant Closure on Mortality and Hospitalization. Journal of Health Economics, 31(4), 599–616.

[13] Darwin, F. (ed.) (1887). The Life and Letters of Charles Darwin. London: John Murray.

[14] Monk, R. (1990). Ludwig Wittgenstein: The Duty of Genius. London: Jonathan Cape.

[15] Nadler, S. (1999). Spinoza: A Life. Cambridge University Press.

[16] Hightower, J. R. (1970). The Poetry of T’ao Ch’ien. Oxford: Clarendon Press.

[17] Mai Quốc Liên & Nguyễn Minh Hoàng (biên soạn) (2001). Nguyễn Du toàn tập. NXB Văn học.

[18] Stach, R. (2013). Kafka: The Years of Insight. Princeton University Press.

No posts

Read the original on hexpion.substack.com

Comments

Nothing yet. Say the first thing.

    Sign in to join the conversation.