Một dự án bất động sản đã san phẳng một triền đồi từng phủ rừng xanh. Ảnh chụp cho thấy đất đỏ loang lổ nơi trước đó là màu xanh. Trong hàng nghìn bình luận phía dưới, lời chỉ trích nhận nhiều lượt đồng tình nhất gần như luôn là một biến thể của cùng một câu: “vì tư bản”.
Những người viết câu đó, thường là sinh viên, vốn không hề vô cảm. Ngược lại, bạn ấy đang phẫn nộ trước một sự việc hoàn toàn cụ thể. Phẫn nộ về một vùng đất có lịch sử, một triền đồi có tọa độ, một cánh rừng có tuổi và một hệ sinh thái với các loài có tên gọi riêng. Nhưng câu trả lời bạn ấy chọn lại là một từ không có địa chỉ, không có ngày tháng, không chỉ vào bất kỳ ai và vì thế không thể bị bất kỳ ai phản bác. Đáng nói là, sau khi viết câu đó, bạn ấy cảm thấy mình đã hiểu chuyện gì vừa xảy ra. Dù vậy, cơn phẫn nộ rồi cũng chuyển hướng qua chuyện khác, cuộc thảo luận khép lại, và triền đồi tiếp tục bị san phẳng. Không một điều khoản đánh giá tác động môi trường nào bị lôi ra đối chiếu, không một quy chuẩn nào bị truy vấn, không một yêu sách cụ thể nào được hình thành từ hàng nghìn con người đang thực lòng tức giận.
Đây là chuyện phổ biến, lặp lại, về một thói quen nhận thức ở quy mô nền văn minh: đứng trước cái cụ thể, ta trả lời bằng cái trừu tượng, rồi nhầm cảm giác nhẹ nhõm sau đó với sự thấu hiểu. Rốt cuộc, điều gì khiến một bộ não - vốn tiến hóa để phân biệt được hàng trăm loại lá rừng - lại chọn cách nhìn thế giới qua năm bảy cái nhãn? Vì sao thói quen đó, trong thời đại của feed và AI, đang từ một tật xấu trở thành một vấn đề cấu trúc?
Trong khoảng một trăm tám mươi năm, ít nhất năm truyền thống trí thức độc lập, không tham chiếu lẫn nhau, xuất phát từ những câu hỏi hoàn toàn khác nhau, đã lần lượt vấp phải cùng một hiện tượng và buộc phải đặt tên cho nó.
Người đầu tiên là Søren Kierkegaard, năm 1846, trong tiểu luận thường được biết đến với tên “The Present Age”. Đối tượng ông mổ xẻ là công nghệ truyền thông đại chúng của thời mình là báo chí. Ông nhìn thấy là báo chí đã tạo ra một thực thể chưa từng tồn tại trước đó là “công chúng”. Công chúng, theo Kierkegaard, là một trừu tượng khổng lồ, một đám đông không ở đâu cả nhưng ai cũng nhân danh, một bóng ma mà người ta có thể thuộc về nó mà không phải cam kết bất cứ điều gì cụ thể [1]. Ông gọi thời đại mình là thời đại của sự san phẳng: đam mê gắn với những con người và sự việc cụ thể bị thay thế bằng phản tư (reflection) trừu tượng vô tận - bàn về mọi thứ, thuộc về không gì cả. Cũng trong năm đó, ở Concluding Unscientific Postscript, ông chĩa mũi nhọn vào những nhà tư tưởng hệ thống kiểu Hegel: kẻ xây được một hệ thống ôm trọn toàn bộ tồn tại và lịch sử thế giới, nhưng trong lúc đạt tới góc nhìn “toàn tri” ấy lại đãng trí một cách khôi hài về đúng một sự thật mà không hệ thống nào nuốt nổi - rằng chính hắn đang tồn tại, hữu hạn, trong thời gian [2]. Tham vọng biết mọi thứ, với Kierkegaard, chính là cơ chế của sự tự quên mình. Một người càng ám ảnh với toàn tri, như vậy, cho thấy anh ta đang liên tục quên mất mình là ai.
Gần tám mươi năm sau, một nhà toán học không mấy bận tâm đến Kierkegaard chạm vào cùng vấn đề từ hướng ngược lại. Alfred North Whitehead, trong Science and the Modern World (1925), đặt tên cho lỗi tư duy mà ông cho là đặc sản của thời đại khoa học: fallacy of misplaced concreteness - ngụy biện cái trừu tượng với cái cụ thể [3]. “Vật chất”, “lực”, “thị trường” là những công cụ phân tích, tức những lát cắt do ta dựng lên để làm việc với thực tại; ngụy biện xảy ra khi ta quên nguồn gốc của chúng vốn là công cụ, và bắt đầu đối xử với chúng như những thực thể có thật, có ý chí, có thể đổ lỗi. Một người nói “tư bản phá rừng” gán tư cách tác nhân cho một khái niệm, trong khi những tác nhân thật - có tên, có con dấu, có quyết định phê duyệt - biến mất khỏi tầm nhìn.
Truyền thống thứ ba thực dụng hơn cả. Alfred Korzybski, kỹ sư người Ba Lan, mở đầu Science and Sanity (1933) bằng mệnh đề: bản đồ không phải lãnh thổ [4]. Ngôn ngữ là một hệ thống bản đồ, và mọi từ đều là kết quả của việc trừu xuất - lược bỏ chi tiết để giữ lại cái chung. Học trò tinh thần của ông, S. I. Hayakawa, trong Language in Thought and Action, đã minh họa quá trình đó bằng hình ảnh cái thang trừu tượng [5]. Ở bậc thấp nhất của cái thang, chúng ta có Con bò Bessie - một sinh vật cụ thể, có tên gọi. Leo lên một bậc, nó thành “bò”; lên nữa, “gia súc”; lên nữa, “tài sản nông trại”; và ở bậc cao nhất, nó tan vào “của cải quốc gia”. Hayakawa cũng cho chúng ta thấy, người tư duy lành mạnh không phải người đứng lì ở chân thang, tức luôn yêu cầu mọi chuyện lúc nào cũng phải cực kì cụ thể, mà là người di chuyển liên tục lên xuống. Họ khái quát rồi lập tức kiểm tra bằng trường hợp cụ thể, quan sát trường hợp cụ thể rồi thử nâng thành khái quát. Wendell Johnson, đồng nghiệp của Hayakawa, gọi tên một dạng bệnh lý là dead-level abstracting, là kẹt cứng ở một tầng, không có khả năng chi tiết hơn và cũng không thể khái quát hơn [6]. Tầng người ta hay kẹt nhất, trớ trêu thay, là tầng cao nhất - nơi “hệ thống”, “xã hội”, “tư bản” trôi nổi mà không còn sợi dây nào neo xuống một sự kiện kiểm chứng được.
Người thứ tư được cho là đưa ra chẩn đoán sắc nhất. Ludwig Wittgenstein, trong các bài giảng ở Cambridge được ghi lại thành The Blue Book (1933–1934), gọi đích danh căn bệnh này là the craving for generality - cơn khát tính tổng quát - và người anh em song sinh của nó, “thái độ khinh thường trường hợp cụ thể” [7]. Wittgenstein truy nguồn cơn khát này về một sự sùng bái: triết gia bị ám ảnh bởi phương pháp của khoa học - quy giản hiện tượng về số lượng tối thiểu các định luật tổng quát - rồi mang phương pháp ấy áp lên những vùng mà nó không thuộc về. Ông không nói khái quát hóa là xấu; ông nói tới cơn khát phải làm chuyện đó, cái phản xạ đòi mọi thứ phải quy về một công thức trước cả khi chịu nhìn kỹ một trường hợp, mới là nguồn cơn của “sự tăm tối triết học”. Toàn bộ phương pháp hậu kỳ của ông (ta sẽ quay lại ở phần cuối) là một liệu pháp được thiết kế để cai cơn khát ấy.
Bốn cái tên trên đều là triết gia hoặc nhà ngôn ngữ, tức người ta vẫn có thể nghi ngờ rằng đây chỉ là chuyện trong tháp ngà. Ngón tay thứ năm vì thế mới là ngón quyết định, nó đến từ phòng khám. Năm 1986, hai nhà tâm lý học J. Mark G. Williams và Keith Broadbent làm một thí nghiệm đơn giản với các bệnh nhân nhập viện sau một lần tự tử bất thành, những người mắc bệnh trầm cảm. Họ đưa một từ gợi ý - chẳng hạn “hạnh phúc” - và yêu cầu nhớ lại một sự kiện cụ thể trong đời gắn với từ đó. Kết quả này được so sánh với người khỏe mạnh. Khi được hỏi, người khỏe mạnh kể lại một buổi chiều, một căn phòng, một câu nói. Các bệnh nhân thì khác, họ trả lời bằng phạm trù. “Hồi mọi người còn quý tôi.” “Những lần đi dạo.” Ký ức của họ đã mất độ phân giải - không còn truy xuất được sự kiện, chỉ còn truy xuất được cái nhãn dán lên cả một vùng đời [8]. Hiện tượng này, về sau được gọi là overgeneral autobiographical memory, hóa ra là một trong những chữ ký nhận thức ổn định nhất của trầm cảm. Nối tiếp nó, chương trình nghiên cứu của Edward Watkins ở Exeter suốt hai thập niên đã tách bạch hai chế độ vận hành của cùng một hành vi nghiền ngẫm. Một là chế độ trừu tượng - xoay quanh những câu hỏi “tại sao chuyện này luôn xảy ra với mình”, “mình là loại người thế nào” - và chế độ cụ thể - “chuyện gì đã xảy ra, ở đâu, lúc mấy giờ, bước tiếp theo là gì”. Kết quả thực nghiệm lặp lại nhiều lần cho thấy: chế độ trừu tượng kéo dài tâm trạng tiêu cực và làm suy giảm khả năng giải quyết vấn đề, trong khi chế độ cụ thể - trên cùng một nội dung đau buồn - thì không [9]. Nói cách khác, điều Kierkegaard mô tả bằng ngôn ngữ hiện sinh và Wittgenstein bằng ngôn ngữ logic, được tâm lý học lâm sàng tìm thấy dưới dạng một biến số đo được trong phòng thí nghiệm, với hậu quả tính bằng điểm số trên thang trầm cảm.
Năm truyền thống học thuật, một hiện tượng. Nhưng tránh hiểu nhầm rằng trừu tượng hóa là kẻ thù. Trừu tượng hóa là thành tựu nhận thức lớn nhất của loài người. Không có nó, ta không có con số, không có định luật, không có luật pháp, và không có cả khái niệm “công lý” để nhân danh nó để đòi hỏi từng trường hợp cụ thể được xét xử tử tế. Kẻ chỉ thấy cây mà không bao giờ thấy rừng cũng bệnh y như kẻ chỉ thấy rừng. Chẩn đoán đúng, như cái thang của Hayakawa gợi ý, không phải “trừu tượng là xấu” mà là mất khả năng di chuyển hai chiều - và cụ thể hơn nữa, là thói quen dùng những trừu tượng miễn phí. Nhà vật lý nói về “năng lượng” phải tốn kém thực hiện phương trình và thí nghiệm, tức bằng một con đường có thể lần ngược xuống chân thang bất cứ lúc nào. Những kẻ dùng từ “năng lượng” cho các vấn đề tâm linh thì không. Người nói “hệ thống thối nát”, “tất cả tại tư bản”, “điều này do neoliberalism” cũng chẳng tốn gì cả. Họ có sẵn những từ ngữ đó trong miệng, sẵn sàng để buông ra, và tự thưởng cho mình cảm giác thông tuệ sau khi thả chúng xuống.
Nếu căn bệnh đã được nhận diện gần hai thế kỷ, vì sao nó không những không thuyên giảm mà còn lan rộng? Câu trả lời không nằm ở chỗ con người lười biếng hay ngu ngốc. Nó nằm ở chỗ trừu tượng hóa vô tội vạ được ba lớp cơ chế cùng lúc trợ giá - nhận thức, xã hội, và tiến hóa văn hóa - khiến nó rẻ một cách không công bằng so với đối thủ của nó là sự cụ thể.
Trước hết, nó rẻ theo đúng nghĩa đen của kinh tế học não bộ. Não là một cỗ máy dự đoán vận hành dưới ràng buộc năng lượng nghiêm ngặt, và phạm trù hóa là hình thức nén thông tin rẻ nhất mà nó có. Một khi đã có nhãn “bất công”, không cần lưu chi tiết của từng trường hợp bất công nữa. Vấn đề nằm ở chỗ đây là kiểu nén có mất mát, và thứ bị mất không phân bố ngẫu nhiên, mà cơ chế nén tiết kiệm năng lượng đã dẫn tới hệ quả là thứ bị vứt đi đầu tiên luôn là những chi tiết mang khả năng hành động. Bạn không thể làm gì với “cuộc đời”, nhưng bạn có thể làm gì đó với một điều khoản hợp đồng, một người quản lý, một deadline. Trừu tượng hóa, như vậy, mặc dầu tặng ta cảm giác mình đã hiểu vấn đề, trên thực tế lại tước đi vũ khí duy nhất quan trọng để ta giải quyết chúng. Đó là động lực hành động.
Năm 2002, Leonid Rozenblit và Frank Keil ở Yale yêu cầu người tham gia tự chấm mức độ hiểu biết của mình về những vật dụng quen thuộc như khóa kéo, bồn cầu, khóa cửa… rồi sau đó yêu cầu họ giải thích cơ chế vận hành từng bước. Sự tự tin sụp đổ ngay khi phải giải thích: người ta phát hiện mình chưa từng thực sự biết khóa kéo hoạt động thế nào, dù đã kéo nó mỗi ngày suốt vài chục năm. Hai ông gọi hiện tượng này là illusion of explanatory depth - ảo giác về chiều sâu giải thích [10]. Nếu ảo giác này tồn tại với một cái khóa kéo, thứ ta có thể tháo ra xem và chạm vào nó mỗi ngày, thì với “chủ nghĩa tư bản” hay “chế độ phụ hệ” - những hệ thống không ai tháo ra được - gần như mặc định rằng hiểu biết của ta là ảo giác. Umbrella term, các thuật ngữ bao quát, chính là máy sản xuất ảo giác này ở quy mô công nghiệp: nói “đó là do neoliberalism” giúp bạn cảm thấy y như đã hiểu, và chính cảm giác đó đóng sập cánh cửa của việc hiểu thật, bởi không ai đi tìm câu trả lời cho một câu hỏi mình tin là đã giải xong.
Nếu chỉ vì kinh tế học nhận thức, ảo giác ấy hẳn đã bị đời sống chung mài mòn từ lâu; thực ra nó còn được thưởng, và muốn hiểu vì sao thì phải nhìn vào chức năng xã hội của lý tính. Trong The Enigma of Reason, Hugo Mercier và Dan Sperber đưa ra một luận điểm khó chịu nhưng ngày càng khó để bác bỏ: lý tính của con người tiến hóa chủ yếu không phải để mô hình hóa thế giới cho chính xác, mà để phục vụ đời sống biện luận xã hội, để thuyết phục người khác, biện minh cho mình, và thẩm định lập luận của kẻ đối diện trong các phe nhóm [11]. Dưới ánh sáng đó, câu “vì tư bản mà ra cả” không phải một công cụ phân tích bị hỏng; nó là một lá cờ phe nhóm đang hoạt động hoàn hảo. Phát ngôn ấy không nhằm giải thích sự kiện. Nó nhằm tuyên bố người nói đứng ở phe nào, và với chức năng tuyên bố phe, độ mơ hồ không phải lỗi mà là tính năng: cờ càng trừu tượng, càng nhiều người đứng vừa dưới bóng nó. Đây cũng là lý do lời kêu gọi “hãy cụ thể hơn” gần như luôn thất bại trong tranh luận công cộng. Nó yêu cầu người ta từ bỏ chức năng thật của phát ngôn (phát tín hiệu thuộc về) để phục vụ chức năng danh nghĩa (phân tích) - một cuộc trao đổi mà, xét theo lợi ích xã hội tức thời của người nói, hoàn toàn lỗ.
Cơ chế còn lại, cũng là cơ chế tôi là then chốt trong thời đại này nằm ở môi trường: chọn lọc văn hóa. Trong bất kỳ môi trường truyền dẫn nào, biến thể ý tưởng nào lây lan tốt hơn sẽ thắng, bất kể giá trị chân lý - đó là logic nền của tiến hóa văn hóa mà Boyd và Richerson đã dựng khung [12]. Giờ, ta hãy đặt hai mệnh đề cạnh nhau. Mệnh đề cụ thể: “điều khoản X trong báo cáo đánh giá tác động môi trường của dự án Y đã bỏ qua hệ số Z”. Mệnh đề trừu tượng: “bọn tư bản phá nát đất nước này”. Mệnh đề thứ nhất có chi phí truyền dẫn cao - cần ngữ cảnh, cần kiến thức nền, khó nhớ, khó lặp lại, và không kích hoạt cảm xúc nào đáng kể. Mệnh đề thứ hai có chi phí truyền dẫn gần bằng không và, quan trọng hơn, đã có số đo cho lợi thế của nó. Phân tích 563.312 tweet quanh ba chủ đề chính trị gây chia rẽ, nhóm của William Brady tại NYU tìm thấy mỗi từ mang tính đạo đức-cảm xúc trong một thông điệp làm tăng tỷ lệ được chia sẻ thêm khoảng 19–20%; một phân tích sau đó vào năm 2025 trên các bộ dữ liệu mới cho con số trung bình 17% [13][14]. Tức là sự thiếu cụ thể không chỉ sinh tồn bất chấp môi trường số, nó đang ở phe thuận chiều của chọn lọc trên môi trường số. Người dùng mạng xã hội không đột nhiên kém đi; họ đang hấp thụ những biến thể đã thắng một cuộc đua mà tiêu chí chiến thắng ngay từ đầu chưa bao giờ là tính đúng đắn.
Và dưới cả ba lớp cơ chế ấy còn một tầng động lực mà Kierkegaard đã chạm tới trước bất kỳ phòng thí nghiệm nào: trừu tượng hóa là một hình thức trốn tránh. Đứng ở vị trí quan sát viên của lịch sử thế giới dễ chịu hơn vô hạn so với đứng ở vị trí một con người hữu hạn với một vấn đề cụ thể phải giải trước thứ Sáu. Nghiên cứu của Watkins gán cơ chế cho tầng này, rằng nghiền ngẫm trừu tượng là cách chạm vào nỗi đau mà không thật sự chạm - nó giữ ta lơ lửng phía trên vết thương, đủ gần để cảm thấy mình đang đối diện, đủ xa để không bao giờ phải xử lý [9]. Nó gây nghiện chính vì nó giảm đau ngắn hạn. Và đó là lý do người ta kẹt lại mãi trong những vòng suy nghĩ không lối ra: họ không kẹt dù đã nghĩ rất nhiều, mà kẹt vì chế độ suy nghĩ ấy được thiết kế - bởi chính họ, một cách vô thức - để không bao giờ đi đến điểm phải hành động.
Nếu ba lớp cơ chế trên đã tồn tại từ khi loài này biết nói, thì điều internet làm không phải là phát minh ra căn bệnh. Nó đã xây cho căn bệnh một hệ tuần hoàn. Có ba đường ống chính, và mức độ đáng lo tăng dần.
Đường ống đầu tiên, và hiển nhiên nhất ta đã nói phía trên: thuật toán phân phối là một môi trường chọn lọc thiên vị ngôn ngữ trừu tượng-đạo đức. Cái “công chúng” Kierkegaard mô tả năm 1846 - bóng ma do báo chí tạo ra, nơi người ta thuộc về mà không cam kết gì - giờ có giao diện, có nút bấm, và có vòng phản hồi tính bằng giây. Điểm khác biệt duy nhất giữa tờ báo của thế kỷ mười chín và cái feed của thế kỷ hai mươi mốt là tốc độ của vòng lặp thưởng-phạt giờ đã tăng tốc vô hạn lần. Người viết bình luận “vì tư bản” nhận về lượt thích trong vòng một phút, và mỗi lượt thích là một liều củng cố cho thói quen trả lời cái cụ thể bằng cái trừu tượng.
Đường ống tinh vi hơn có tên học thuật hẳn hoi, và nó vận chuyển chứ không sản xuất. Nó chuyên mang những khái niệm dùng để chẩn đoán từ phòng khám ra quảng trường cho người dân tùy ý sử dụng. Năm 2016, nhà tâm lý học Nick Haslam ở Melbourne công bố một quan sát về chính ngành của mình: các khái niệm chỉ tổn hại - “trauma”, “abuse”, “bullying”, “addiction”, “prejudice” - đang liên tục giãn nở qua nhiều thập niên, theo cả chiều ngang (bao phủ những hiện tượng mới) lẫn chiều dọc (hạ thấp ngưỡng để một hiện tượng được tính) [15]. Ông gọi hiện tượng này là concept creep. “Trauma” trong DSM đời đầu đòi hỏi một sự kiện nằm ngoài phạm vi trải nghiệm thông thường của con người; qua từng lần giãn nở, và nhất là khi từ này thoát khỏi phòng khám để chạy trên hạ tầng viral, nó dần phủ lên gần như mọi trải nghiệm khó chịu đáng kể. Điều đáng nói là những khái niệm này vốn được đúc kết trong môi trường học thuật với điều kiện khoanh vùng nghiêm ngặt. Một chẩn đoán tồn tại được là nhờ nó có giới hạn, ranh giới được tạo ra nhờ danh sách những gì không được tính. Khi từ ngữ di cư lên mạng xã hội, ranh giới là thứ rụng đầu tiên. Bởi khi thông tin di chuyển trong hạ tầng viral, toàn bộ khung về ranh giới không lây lan được, còn cái nhãn thì có.
Hệ quả của cuộc di cư thuật ngữ này đã được đo. Năm 2022, ba bác sĩ tâm thần ở Toronto phân tích 100 video phổ biến nhất gắn hashtag #ADHD trên TikTok - nhóm video có tổng cộng gần nửa tỷ lượt xem - và phân loại theo tiêu chí lâm sàng: 52% bị xếp vào nhóm gây hiểu lầm, phần lớn vì trình bày những đặc điểm phổ quát của con người thành triệu chứng đặc hiệu của ADHD; chỉ 21% được đánh giá là hữu ích [16]. Một nghiên cứu lặp lại năm 2025 cho tỷ lệ gần như không đổi, trong khi lượt xem trung bình của nhóm video hàng đầu đã nhảy từ 2,8 triệu lên 10,2 triệu [17]. Cùng thời gian đó, một khảo sát tại Mỹ cho thấy khoảng một phần tư người trưởng thành nghi ngờ bản thân mắc ADHD, trong khi ước tính dịch tễ cho người lớn nằm quanh mức vài phần trăm [18]. Khoảng cách giữa hai con số ấy chính là concept creep đang vận hành trong thời gian thực: hàng chục triệu người đang dùng một thuật ngữ lâm sàng làm cái nhãn cho trải nghiệm chưa được phân loại của mình - hay quên, khó tập trung, chán việc - và cái nhãn, thay vì mở ra một quá trình tìm hiểu, đã đóng nó lại.
Bạn cũng từng thấy, hoặc tham gia vào chùm thói quen mọc ra từ đường ống này, bởi chúng đã thành nghi thức tập thể trên mạng xã hội tiếng Việt cũng như mọi thứ tiếng khác. Đó là thói chẩn đoán người lạ qua một status - người yêu cũ thành “narcissist”, phụ huynh thành “toxic”, mọi bất đồng thành “gaslighting”, một cô gái làm bạn khó chịu là “pick me girl”. Đó là thói dán nhãn trường phái thay cho phản bác. Ta không cần chỉ ra lập luận của đối phương sai ở chỗ nào một khi đã dán được lên trán họ chữ “neoliberal” hay “woke”, tùy phe. Và đó là thói quen xấu tôi cho rằng đang âm thầm tàn phá tư duy. Ta trừu tượng hóa hình thức của thế giới để nó khớp với đánh giá chủ quan của mình. “Thế hệ này hỏng rồi.” “Xã hội này không còn thuốc chữa.” “Đàn ông đều thế cả.” Hãy để ý cấu trúc của những câu này, chúng là một phạm trù tối đa, một phán quyết toàn thể, không một trường hợp cụ thể nào được nêu. Khi ta đặt cạnh những câu trả lời trong thí nghiệm của Williams và Broadbent: “hồi mọi người còn quý tôi”, “những lần như thế”, ta sẽ thấy chúng là cùng một chữ ký nhận thức. Ta đã biết overgeneral memory vừa là triệu chứng vừa là nhiên liệu của trầm cảm, khóa người bệnh trong một thế giới không còn chi tiết nào để bám vào mà gỡ; có lẽ ta cũng nên đọc nó như lời cảnh báo cho cả một môi trường diễn ngôn đang tự huấn luyện mình nói năng theo đúng kiểu ấy. Một người lướt feed hai tiếng mỗi tối đang làm gì, nếu không phải là lặp đi lặp lại bài tập khái quát hóa tiêu cực - về thế giới, về thế hệ, về giới tính, về chính mình - với cường độ mà không phòng thí nghiệm nào dám thiết kế?
Đường ống cuối cùng là AI. Một mô hình ngôn ngữ lớn, xét về cấu trúc, là một hàm nén của toàn bộ diễn ngôn từng được viết ra - nó tạo sinh từ những pattern thống kê, tức từ cái chung của hàng tỷ trang văn bản. Khi văn hóa đọc chuyển dần sang “cho tôi bản tóm tắt” và văn hóa viết chuyển dần sang “viết giùm tôi”, thứ bị loại khỏi vòng đời tri thức chính là ma sát với trường hợp cụ thể. Ở phần cuối của bài viết này, ta sẽ thấy ma sát ấy không phải chướng ngại của việc hiểu; nó là việc hiểu. Nói vậy không có nghĩa AI tất yếu làm ta trừu tượng hơn. Công cụ này hoàn toàn có thể được dùng theo chiều ngược lại, như một kẻ chất vấn không mệt mỏi buộc ta cụ thể hóa từng ý niệm mơ hồ. Sự khác biệt giữa hai kịch bản không nằm ở công nghệ mà nằm ở việc người dùng giữ hay buông chiếc ghế “phải suy nghĩ”. Nhưng ta cũng phải thừa nhận điểm bất đối xứng: kịch bản thứ nhất là mặc định, không tốn nỗ lực nào; kịch bản thứ hai đòi hỏi một quyết định lặp lại mỗi ngày. Và lịch sử của mọi công nghệ tiện lợi cho ta biết trạng thái mặc định thắng sự nỗ lực trong phần lớn ván đấu.
Ta vẫn có thể thắng những ván còn lại, btw.
Nếu trừu tượng hóa vô tội vạ khiến đám đông bất lực, thì có ai hưởng lợi từ sự bất lực đó không? Có ai hiểu rõ cơ chế này và dùng nó một cách có chủ đích không?
George Orwell trong “Politics and the English Language” (1946) chỉ ra rằng, ngôn ngữ chính trị của mọi phe phái thời ông đều được thiết kế “để khiến lời dối trá nghe thành thật và án mạng nghe thành đáng kính” - và công cụ chủ lực chính là trừu tượng hóa [19]. Ví dụ ông đưa vẫn còn nguyên độ sắc sau tám mươi năm: những ngôi làng bị ném bom, dân cư bị xua khỏi nhà, gia súc bị bắn - toàn bộ chuỗi sự kiện cụ thể ấy được đóng gói thành một từ: “bình định”. Hay chúng ta có thể liên tưởng đến việc phá rừng cho “phát triển kinh tế”. Uyển ngữ, nhìn qua cái thang của Hayakawa, chỉ đơn giản là thao tác đẩy sự kiện lên đủ cao để máu không còn nhìn thấy được từ độ cao đó. Ai kiểm soát được độ cao của cuộc thảo luận, người đó kiểm soát được cái gì hiện ra trong tầm nhìn.
Nhưng Orwell mới chạm lớp vỏ của ý đồ. James Scott, trong Seeing Like a State (1998), chỉ ra một tầng cấu trúc hơn: quyền lực quy mô lớn buộc phải trừu tượng hóa để vận hành, bất kể thiện chí. Ví dụ mở đầu của ông là ngành lâm nghiệp khoa học ra đời ở các công quốc Đức cuối thế kỷ mười tám: để tính được sản lượng gỗ và thuế, khu rừng thật - với tầng cây bụi, nấm, chim, và những công dụng không tên mà dân địa phương thuộc lòng - được quy về một bảng số liệu, rồi từ bảng số liệu được trồng lại thành những hàng vân sam thẳng tắp, đều tuổi, dễ đếm. Thế hệ rừng đầu tiên bội thu. Thế hệ sau bắt đầu suy kiệt, bởi tất cả những gì bị bảng số liệu coi là nhiễu - đa dạng sinh học, chu trình dinh dưỡng của lớp mùn - hóa ra là thứ giữ khu rừng sống [20]. Bài học của Scott không phải “nhà nước xấu”; bài học là mọi bộ máy quản trị ở quy mô lớn đều cần làm thế giới trở nên đọc được - legibility - và cái giá của sự đọc được luôn là sự cụ thể của thứ bị đọc. Trừu tượng hóa, ở tầng này, không phải âm mưu của ai; nó là điều kiện vận hành của quyền lực hiện đại. Điều đó không làm nó bớt nguy hiểm - nó làm nó khó chống hơn, vì không có kẻ chủ mưu nào để lật đổ.
Cuối cùng là tầng của chủ đích thuần túy, và nhà lý thuyết chính trị Ernesto Laclau đã gọi tên nguyên liệu của nó: empty signifier - kí hiệu rỗng [21]. Quan sát của Laclau lạnh lùng đến mức nghe khó chịu: mọi phong trào quần chúng, để gom được những nhóm lợi ích vốn dĩ xung đột nhau vào cùng một khối, đều cần một từ đủ trống để mỗi nhóm rót vào đó khát vọng riêng của mình. “Thay đổi”, “công lý”, “tự do”, “trật tự”, “phát triển” - sức huy động của những từ này tỷ lệ thuận với độ rỗng của chúng, bởi một cương lĩnh cụ thể thì loại trừ (điều khoản nào cũng làm mất lòng một nhóm nào đó), còn một biểu tượng rỗng thì thu nạp. Người làm chính trị chuyên nghiệp, người viết quảng cáo, người vận hành thương hiệu - tất cả đều biết điều mà đám đông của họ không biết: rằng sự mơ hồ không phải khiếm khuyết của thông điệp - nó là nguyên liệu được chọn. Quảng cáo không bán cho bạn một đôi giày, nó bán “phiên bản tốt nhất của chính bạn”. Nền tảng không bán cho bạn nội dung, nó bán một cuộc xung đột trừu tượng không bao giờ kết thúc. Vì tranh chấp cụ thể thì giải quyết được, tức có ngày người ta thôi bàn về nó; còn culture war trừu tượng, không ai chỉ ra nổi nó sẽ được giải quyết bằng văn bản nào, vì vậy là nguồn nhiên liệu tái tạo vô hạn cho một cỗ máy sống bằng thời gian chú ý. Như vậy, ta không cần tới một căn phòng họp bí mật của những kẻ giật dây như mô tả trong thuyết âm mưu. Chỉ cần nhìn incentive: mọi bên trung gian sống bằng chú ý đều có lợi khi cuộc cãi vã ở lại tầng cao nhất của cái thang, nơi nó không bao giờ chạm đất và vì thế không bao giờ tắt. Hiển nhiên sẽ có, không chỉ một, nhóm chủ động giật dây.
Ghép ba tầng lại, ta thấy căn bệnh này bị khai thác ở mọi tầng: bởi kẻ nói dối chuyên nghiệp kiểu Orwell mô tả, bởi bộ máy cần tính đọc được (legibility) kiểu Scott phân tích, và bởi mọi cỗ máy huy động cảm xúc kiểu Laclau giải phẫu. Nhưng chuỗi khai thác ấy chỉ chạy được trên một quần thể đã sẵn thói quen nhận cái trừu tượng thay cho cái cụ thể mà không đòi trả giá gì cả. Bởi cái trừu tượng tuy vẫn chứa đựng ý nghĩa và tính đúng đắn, nhưng càng trừu tượng và chung chung càng đòi trả giá đắt hơn. Và điều đó dẫn ta đến câu hỏi cuối, câu duy nhất thực sự nằm trong tay từng người: thói quen ấy có cai được không?
Mùa thu năm 1873, một sinh viên trẻ tên Samuel Scudder bước vào phòng thí nghiệm của Louis Agassiz - nhà tự nhiên học lừng danh nhất nước Mỹ thời đó - tại Harvard, để xin theo học. Agassiz hỏi anh muốn nghiên cứu gì, và sau khi nghe xong, ông lấy từ kệ xuống một con cá ngâm formalin thuộc chi Haemulon, đặt trước mặt Scudder cùng một mệnh lệnh duy nhất: nhìn con cá. Không sách. Không dụng cụ. Không được nói chuyện với ai về nó.
Scudder, theo lời tự thuật anh công bố trên tờ Every Saturday năm 1874, nghĩ mười phút là đủ [22]. Mười phút sau, anh đã thấy hết những gì có thể thấy - và Agassiz thì biến mất, không quay lại suốt buổi. Bị bỏ lại với con cá, Scudder đếm vảy, vẽ nó, phát hiện ra rằng chính việc vẽ buộc mắt anh dừng ở những cấu trúc mà cái nhìn lướt đã bỏ qua. Khi Agassiz quay lại và nghe anh trình bày, ông chỉ nói: anh chưa nhìn kỹ. Nhìn lại đi. Ngày thứ hai, rồi ngày thứ ba trôi qua như vậy - nhìn, trình bày, và bị trả về với đúng một con cá ấy - cho đến khoảnh khắc Scudder chợt thấy: con cá có những cơ quan đối xứng hai bên, một nguyên lý cấu trúc nằm phơi ra đó từ đầu mà ba ngày trước mắt anh trượt qua không chút vướng bận. “Nhìn, nhìn, nhìn” - về già, Scudder viết rằng đó là bài học tốt nhất ông từng nhận, một di sản mà Agassiz để lại cho ông như để lại cho rất nhiều học trò khác. Sáu mươi năm sau, Ezra Pound lấy đúng giai thoại này mở đầu ABC of Reading, như định nghĩa của việc đọc [23].
Tôi kể chuyện này ở đầu phần “giải pháp” vì nó chứa toàn bộ cấu trúc của giải pháp - bao gồm cả phần khó chịu nhất: cái giá của giải pháp. Không có lối tắt nào trong ba ngày ấy. Thứ Scudder nhận được không phải một thông tin (thông tin thì Agassiz nói một câu là xong) mà là một năng lực. Năng lực nhìn thật kĩ một thứ, để nhìn ra được chỉ riêng thứ ấy. Và năng lực thì không truyền được mà chỉ rèn được. Mọi con đường cai cơn khát tính tổng quát mà tôi biết đều có chung cấu trúc đó, tất cả đều yêu cầu người thực hành phải trả giá.
Giải pháp đầu tiên được cung cấp bởi phòng khám, rèn luyện bằng kỷ luật lặp lại chứ không bằng bất kỳ khoảnh khắc bừng ngộ nào. Từ chương trình nghiên cứu về hai chế độ nghiền ngẫm, nhóm của Watkins đã phát triển hẳn một liệu pháp mang tên concreteness training: bệnh nhân được huấn luyện, qua bài tập hàng ngày, chuyển từng câu hỏi “tại sao” thành chuỗi câu hỏi cụ thể - tức là chuyện gì đã xảy ra, trong hoàn cảnh nào, diễn tiến ra sao, bước khả thi kế tiếp là gì. Thử nghiệm đối chứng đầu tiên năm 2009 trên 60 người có triệu chứng trầm cảm cho thấy nhóm được huấn luyện giảm cả triệu chứng lẫn mức độ nghiền ngẫm so với nhóm huấn luyện giả dược và nhóm chỉ chờ đợi; thử nghiệm pha II năm 2012 trên 121 bệnh nhân trầm cảm điển hình trong chăm sóc ban đầu xác nhận hiệu quả khi cộng liệu pháp này vào điều trị thông thường [24][25]. Chi tiết đáng nhấn nhất của cả hai nghiên cứu không nằm ở con số mà nằm ở hình thức: đây không phải liệu pháp insight. Không ai thoát khỏi nghiền ngẫm trừu tượng nhờ hiểu ra rằng nó có hại - người ta thoát nhờ xây một thói quen vận động nhận thức mới, với số lần lặp tương đương học một nhạc cụ. Chữa một thói quen ngôn ngữ, hóa ra, giống tập đàn hơn là giác ngộ.
Con đường Wittgenstein đã tự đi trả bằng một loại tiền đắt hơn: địa vị trí thức. Phương pháp hậu kỳ của ông - được ông mô tả là bày ra các trường hợp để nhìn, thay vì nghĩ ra định nghĩa để nắm - về bản chất là một liệu pháp chống cơn khát khái quát. Ví dụ, khi bị hỏi “trò chơi là gì”, đừng đi tìm cái lõi chung của mọi trò chơi, hãy bày cờ vua cạnh đá bóng cạnh trò ú òa của đứa trẻ, và quan sát mạng lưới những nét giống nhau chồng lấn mà ông gọi là family resemblance [26]. Vấn đề là câu trả lời kiểu đó nghe kém oai một cách hệ thống. Nói “tôi không có định nghĩa tổng quát, nhưng đây là bảy trường hợp và chúng liên hệ với nhau thế này” sẽ luôn thua về mặt sân khấu trước kẻ dõng dạc phát biểu một công thức cho mọi thứ. Ai chọn con đường này phải chấp nhận từ bỏ khoái cảm của việc sở hữu một hệ thống - thứ khoái cảm mà, như Kierkegaard đã chỉ ra, phải trả giá bằng việc quên chính mình. Trong một môi trường diễn ngôn thưởng cho vẻ ngoài của tri thức, sự cụ thể là một hình thức khiêm tốn phải trả phí ngay và nhận lãi rất chậm.
Và còn một khoản phí thứ ba, ít được nói đến nhất nhưng có lẽ nặng nhất với người trẻ đang tìm kiếm sự công nhận và thuộc về, là phí xã hội. Trong một cuộc culture war đang sôi, người giơ tay hỏi “cụ thể là điều khoản nào, số liệu lấy ở đâu, trường hợp này khác trường hợp kia chỗ nào” không được đọc như một người cầu thị - người đó bị đọc như kẻ phản bội lá cờ. Ta đã đọc ở phần hai rằng, khi phát ngôn vận hành như lá cờ liên minh, đòi hỏi cụ thể hóa chính là đòi hạ cờ. Cho nên bất kỳ ai quyết định tập nhìn con cá của mình cũng cần biết trước rằng kỷ luật ấy sẽ có lúc khiến họ đứng một mình giữa hai đám đông đang hô những khẩu hiệu ngược chiều nhau; và rằng đứng được ở đó, không nhập vào bên nào chỉ để đỡ trống trải, tự nó là một phần của bài tập.
Hiển nhiên tôi cũng mắc phải thói xấu tổng quát hóa, nhưng nỗ lực nghiên cứu và viết lách trong nhiều năm đã may mắn cứu tôi khỏi số phận của một kẻ đứng mãi trên thang rồi nghĩ rằng mình cao hơn tất cả. Dầu vậy, mỗi khi chạm tới giới hạn của mình, như cảm xúc bắt đầu bị thách thức, kiến thức đã đến phần rìa của kinh nghiệm, và tình thế áp lực cao từ người xung quanh, tôi thấy mình có xu hướng lựa chọn lối trình bày tổng quát hóa. Như vậy, vì đó là một lựa chọn rẻ rúng, nên ta có xu hướng chọn chúng trong trường hợp ta ở trong sự nghèo nàn. Biết được điều này, tôi rèn cho mình thói quen viết lách trước khi phản ứng, và không ép bản thân phải đưa ra lựa chọn gấp gáp cho những chuyện quan trọng.
Tôi ngày càng tin rằng viết là phiên bản dân sự của con cá Agassiz: một công nghệ ép buộc tính cụ thể mà loài này đã sở hữu sẵn năm nghìn năm. “Tôi buồn về mọi thứ” không viết thành đoạn văn được. Viết gắn liền với tính đọc được, nên nó không cho phép sự nhòe nhoẹt. Muốn viết tiếp buộc phải trả lời buồn về cái gì, từ bao giờ, biểu hiện ra sao, và chính chuỗi cưỡng bức đó, chứ không phải sản phẩm cuối, là chỗ việc viết tạo ra quá trình “tập đàn” cho người viết. Như vậy, mối đe dọa thật của AI với nghề viết không nằm ở chỗ máy viết hay hơn người; mà khi việc viết được ủy thác trọn gói cho AI, con người hiện đại cũng đã từ bỏ một phương tiện giúp họ đi xuống chân thang. Giữ lại việc viết, dù chỉ cho riêng mình, vì thế không còn là chuyện nghề nghiệp. Nó là chuyện giữ lại một cơ quan nhận thức.
Quay lại với người sinh viên dưới bản tin về những triền đồi bị san phẳng, điều đáng tiếc nhất trong bình luận của bạn ấy không phải là sai mà là lãng phí. Cơn phẫn nộ ấy có thật, chính đáng, và mang trong nó năng lượng đủ để đọc một bản đánh giá tác động môi trường, đối chiếu một quy chuẩn, viết một kiến nghị có số hiệu văn bản - những hành vi nhỏ, chậm, không ai tán thưởng, nhưng là loại hành vi duy nhất từng thay đổi được số phận của bất kỳ triền đồi nào. Thay vào đó, toàn bộ năng lượng được đốt trong một giây, để nói một câu vô thưởng vô phạt đổi lấy vài trăm lượt đồng tình từ những người cũng vừa đốt năng lượng của họ theo cách ấy. Nhân điều đó lên hàng triệu lần mỗi ngày, ta có chân dung năng lượng của một thời đại: chưa bao giờ loài này phẫn nộ nhiều đến thế, và hiếm khi nào tổng phẫn nộ ấy chuyển hóa thành ít thay đổi cụ thể đến thế này.
Kierkegaard có một hình ảnh cho kẻ tư duy hệ thống: hắn xây một tòa lâu đài tư tưởng nguy nga ôm trọn toàn bộ tồn tại, rồi sống trong cái lán bên cạnh. Bởi tòa lâu đài, vốn được xây cho “nhân loại” và “lịch sử”, không có phòng nào vừa với một con người cụ thể [27]. Có lẽ đó là hình ảnh chính xác nhất cho cách chúng ta đang sống với ngôn ngữ của mình. Càng ngày càng thạo việc xây những cấu trúc lớn - về hệ thống, về thế hệ, về thời đại. Và càng ngày càng ít khả năng gọi tên căn lán mình đang thực sự ở: mong muốn cụ thể của mình, mối bận tâm cụ thể của mình, vấn đề cụ thể đang chờ mình trước thứ Sáu. Thế giới sẽ còn tiếp tục mở rộng, thông tin sẽ còn dày lên, những từ ngữ đao to búa lớn sẽ ngày càng nhiều. Ta không thể chặn được dòng lũ, ta chỉ có thể tự hỏi liệu mình còn thời gian và tâm trí để nhìn thấy con cá nào hay không.
Tài liệu tham khảo
[1] Kierkegaard, S. (1846). Two Ages: A Literary Review (phần thường được trích với tên “The Present Age”).
[2] Kierkegaard, S. (1846). Concluding Unscientific Postscript to Philosophical Fragments.
[3] Whitehead, A. N. (1925). Science and the Modern World. Macmillan.
[4] Korzybski, A. (1933). Science and Sanity: An Introduction to Non-Aristotelian Systems and General Semantics.
[5] Hayakawa, S. I. (1949). Language in Thought and Action. Harcourt, Brace.
[6] Johnson, W. (1946). People in Quandaries: The Semantics of Personal Adjustment. Harper.
[7] Wittgenstein, L. (1958). The Blue and Brown Books. Blackwell (các bài giảng 1933–1935).
[8] Williams, J. M. G., & Broadbent, K. (1986). Autobiographical memory in suicide attempters. Journal of Abnormal Psychology, 95(2), 144–149.
[9] Watkins, E. R. (2008). Constructive and unconstructive repetitive thought. Psychological Bulletin, 134(2), 163–206.
[10] Rozenblit, L., & Keil, F. (2002). The misunderstood limits of folk science: An illusion of explanatory depth. Cognitive Science, 26(5), 521–562.
[11] Mercier, H., & Sperber, D. (2017). The Enigma of Reason. Harvard University Press.
[12] Boyd, R., & Richerson, P. J. (1985). Culture and the Evolutionary Process. University of Chicago Press.
[13] Brady, W. J., Wills, J. A., Jost, J. T., Tucker, J. A., & Van Bavel, J. J. (2017). Emotion shapes the diffusion of moralized content in social networks. PNAS, 114(28), 7313–7318.
[14] Burton, J. W., et al. (2025). Estimating the effect size of moral contagion in online networks: A pre-registered replication and meta-analysis. PNAS Nexus, 4(11).
[15] Haslam, N. (2016). Concept creep: Psychology’s expanding concepts of harm and pathology. Psychological Inquiry, 27(1), 1–17.
[16] Yeung, A., Ng, E., & Abi-Jaoude, E. (2022). TikTok and attention-deficit/hyperactivity disorder: A cross-sectional study of social media content quality. The Canadian Journal of Psychiatry, 67(12), 899–906.
[17] (2025). Quality and perception of attention-deficit/hyperactivity disorder content on TikTok: Cross-sectional study. JMIR Infodemiology.
[18] Khảo sát Ohio State University Wexner Medical Center (2024) về tỷ lệ người trưởng thành Mỹ nghi ngờ bản thân mắc ADHD.
[19] Orwell, G. (1946). Politics and the English Language. Horizon.
[20] Scott, J. C. (1998). Seeing Like a State: How Certain Schemes to Improve the Human Condition Have Failed. Yale University Press.
[21] Laclau, E. (1996). Why do empty signifiers matter to politics? Trong Emancipation(s). Verso.
[22] Scudder, S. H. (1874). In the laboratory with Agassiz. Every Saturday, 4/4/1874.
[23] Pound, E. (1934). ABC of Reading. Routledge.
[24] Watkins, E. R., Baeyens, C. B., & Read, R. (2009). Concreteness training reduces dysphoria: Proof-of-principle for repeated cognitive bias modification in depression. Journal of Abnormal Psychology, 118(1), 55–64.
[25] Watkins, E. R., Taylor, R. S., Byng, R., et al. (2012). Guided self-help concreteness training as an intervention for major depression in primary care: A Phase II randomized controlled trial. Psychological Medicine, 42(7), 1359–1371.
[26] Wittgenstein, L. (1953). Philosophical Investigations. Blackwell.
[27] Kierkegaard, S. (1849). The Sickness Unto Death
No posts

Comments
Nothing yet. Say the first thing.
Sign in to join the conversation.