"Hiển nhiên chúng ta không bị mắc kẹt mãi trong cùng một quá khứ", tt.
Năm 2013, ở khu rừng bách phía nam đảo Honshū, Nhật Bản, một quần thể đền thờ cổ (gồm hai khu chính, vài chục công trình phụ, các cổng torii bằng gỗ, các sàn lát đá, các kho chứa kinh) đã bị tháo dỡ theo nghi thức. Từng cây cột được rút khỏi móng. Mái lợp bằng vỏ cây hinoki được tháo ra. Sàn được dở theo từng tấm. Tất cả vật liệu được đem đi; phần thì chia cho các đền nhỏ trên toàn quốc để tái sử dụng, phần thì giữ làm di vật. Nền đất vừa được dọn sạch ấy trở thành khoảng trống được rải sỏi trắng và rào lại, để nghỉ trong hai mươi năm.
Cách đó vài chục mét, trên một mảnh đất trống đã được chuẩn bị từ tám năm trước, cùng một quần thể đền - cùng tên, cùng kích thước, cùng kết cấu, cùng vật liệu, cùng kỹ thuật mộc - đã được dựng lên từ trước. Khoảng 14.000 cây hinoki được hạ từ một khu rừng quốc gia được bảo vệ riêng cho mục đích này, qua một quy trình không thay đổi đáng kể từ thế kỷ thứ 7. Các thợ mộc làm việc bằng đục, búa, và không dùng tới bất kì chiếc đinh kim loại nào. Các nghi lễ chuyển thần (sengyo) được thực hiện vào tháng 10 năm 2013 cho đền chính (Naikū) và tháng 10 năm 2014 cho đền ngoài (Gekū). Bộ đền cũ bị xóa khỏi vị trí của nó. Bộ đền mới - về mọi chi tiết hữu hình thì giống hệt - đứng cách đó vài chục mét.
Đây là Shikinen Sengū, nghi thức tái thiết tuần hoàn của Đền Ise, đã lặp lại 62 lần. Lần đầu, theo sử ghi, là vào năm 690 sau Công nguyên dưới thời Nữ hoàng Jitō, nghĩa là chuỗi này đã không gián đoạn - trừ một lần bị hoãn vài năm trong thời Sengoku (cuối thế kỷ 15) và một lần bị đẩy lùi do Thế chiến thứ hai - trong khoảng 1.330 năm. Lần thứ 63 được lên kế hoạch cho năm 2033. Gỗ phải đến từ cây 200-400 năm tuổi để đủ phẩm chất. Để đảm bảo nguồn cung cho các thế kỷ tới, đền Ise đã khởi động một chương trình trồng rừng vào năm 1923, dự kiến cần khoảng 200 năm trước khi rừng tự trồng ấy có thể tự cung hoàn toàn cho các lần Sengū tương lai.
Một du khách phương Tây đến Ise lần đầu thường hỏi câu giống nhau: vậy thì rốt cuộc, đền nào là thật? Câu hỏi này là một câu hỏi sai. Hiểu vì sao nó sai sẽ đưa ta đi qua hầu hết những gì mà Gen Z, thế hệ đang sống trong cảm giác mất tương lai cần biết: về quá khứ, về ký ức, về điều mà não bộ làm khi nó "nhìn vào tương lai". Và về một câu hỏi: trong một thế giới nơi các đại tự sự đã chết và các tấm lưới tự sự nhỏ thì mỏng và dễ vỡ, một người còn hi vọng nào rằng họ vẫn chủ động thay đổi đời mình được không?
Câu trả lời liên quan chặt chẽ với cây hinoki và cũng liên quan với cách bộ não tái dựng quá khứ mỗi lần ta nhớ. Để đến đó, cần đi đường vòng qua một sử gia tôn giáo người Romania.
Teofil Jozwiak | Łódź - Piotrkowska, 1962
I. Mircea Eliade và phát hiện kỳ lạ về ý nghĩa của sự lặp lại
Năm 1949, Mircea Eliade - một học giả tôn giáo lưu vong người Romania, về sau dạy ở University of Chicago - xuất bản cuốn Le Mythe de l’éternel retour (Huyền thoại về sự trở về vĩnh hằng). Cuốn sách đặt ra câu hỏi: vì sao các xã hội cổ - bộ lạc Úc, người Babylon, các nông dân thung lũng Sông Nile, các thầy cúng Inca - đều dành phần lớn năng lượng tinh thần của mình vào việc tái diễn các nghi lễ giống hệt nhau, thế hệ này qua thế hệ khác? Vì sao họ kháng cự sự thay đổi? Vì sao họ trân trọng sự lặp lại đến mức coi nó là điều kiện của chính sự tồn tại?
Việc cho rằng họ đơn giản là “lạc hậu”, “chưa hiểu khái niệm tiến bộ” đã bị Eliade bác bỏ thẳng thừng. Lập luận của ông là: các xã hội cổ không phải đang thiếu khái niệm thời gian tuyến tính, họ đang từ chối nó. Thời gian tuyến tính, trong cái nhìn của họ, là thời gian của sự suy tàn - mọi thứ bị bào mòn, hư hỏng, chết đi. Cách duy nhất để sự tồn tại có ý nghĩa là neo nó vào các nguyên mẫu (archetypes) ngoài thời gian. Chúng được cho là các hành động được các vị thần thực hiện vào in illo tempore (‘thời ấy’), thời mà mọi thứ được tạo ra lần đầu. Khi một nông dân Babylon cày ruộng, anh ta không “chỉ” cày ruộng; anh ta đang lặp lại hành động cày ruộng nguyên thủy mà thần Marduk đã làm khi tạo ra thế giới từ xác Tiamat. Khi một bộ lạc Úc đi qua một dải đá nào đó trong Outback, họ không “chỉ” đi qua; họ đang đi lại các đường đi của các thực thể tạo thế (Dreamtime ancestors). Mỗi nghi lễ năm mới ở Mesopotamia là sự tái tạo vũ trụ. Không phải nghi lễ là kỉ niệm một cách tượng trưng, nó chính là sự tái tạo. Trong tâm thức cổ, vũ trụ phải được tạo lại định kỳ vì nếu không, nó sẽ rơi vào sự hỗn loạn.
Eliade gọi đây là cấu trúc của sự thiêng liêng (structure of the sacred). Cấu trúc này dùng logic: cái-có-thật là cái-được-lặp-lại. Cái xảy ra một lần và không bao giờ lặp lại - một sự kiện lịch sử, một biến cố cá nhân, một cái chết - nằm ngoài cấu trúc của thiêng và do đó, không có thật. Đó là lý do, theo Eliade, các xã hội cổ kháng cự "lịch sử" như theo kiểu họ từ chối hoặc không thể nhớ, mà vì họ không chấp nhận lịch sử là thực tại có giá trị. Chỉ những gì lặp lại mới có nghĩa.
Khi tôn giáo độc thần phương Tây xuất hiện, đặc biệt là Do Thái giáo và sau đó là Cơ đốc giáo, một thứ gì đó đã thay đổi. Lịch sử - như một chuỗi biến cố không lặp lại, đi tới một mục đích - trở thành thực tại có ý nghĩa. Adam ngã, Noah được cứu, Abraham đi, Moses dẫn dắt, Christ chết - mỗi sự kiện xảy ra một lần, không lặp lại, và chính vì vậy mà có ý nghĩa. Eliade gọi sự dịch chuyển này là sự “chấp nhận lịch sử”. Và ông cảnh báo: cái giá phải trả cho việc chấp nhận lịch sử là ‘the terror of history’ - nỗi kinh hoàng của lịch sử. Khi mọi thứ chỉ xảy ra một lần, mỗi mất mát là tuyệt đối; mỗi đau đớn không có nguyên mẫu để thuộc về; mỗi cá nhân đứng đơn độc trước cái không-lặp.
Hiện đại, theo Eliade, đã đi xa hơn nữa: nó cắt đứt cả lịch sử thiêng (Cơ đốc) lẫn cấu trúc thiêng (cổ). Cái còn lại là một thời gian thuần túy tuyến tính, hoàn toàn thế tục, không nguyên mẫu, không mục đích cuối cùng (không có Chúa). Eliade viết: con người hiện đại “đối diện trực tiếp với tự do của mình” và do đó “bị buộc phải tự kiến tạo ý nghĩa của lịch sử”. Câu này được viết năm 1949. Eliade chưa biết Generation Z. Nhưng ông đã mô tả tình thế của họ chính xác một cách kì quái.
Chúng ta cần dừng lại một chút để dẹp một sự hiểu nhầm phổ biến. Lập luận của Eliade - và của bài viết này - không phải là "ngày xưa tốt hơn, hãy quay về nghi lễ cổ". Đó là phiên bản phản động hời hợt của ý tưởng. Cái đáng nắm giữ là một sự thật cấu trúc: ý nghĩa của một hành động, một cá nhân, một cuộc đời, đối với hầu hết loài người trong hầu hết lịch sử, không đến từ tính độc đáo của nó, mà đến từ việc nó là một biến thể của một mẫu được lặp đi lặp lại. Lặp lại không phải là sự bảo thủ. Nó là vật liệu để ý nghĩa được dệt nên.
Vậy, vì sao? Vì sao bộ não con người lại cấu trúc theo cách mà sự lặp lại cung cấp ý nghĩa, còn cái xảy ra một lần thì không?
Như mọi khi, hãy đi tới một chỗ khác nữa…
II. Vì sao “ngày mai” chỉ tồn tại nhờ ngày hôm qua
Năm 1739, một thanh niên Scotland 28 tuổi tên David Hume xuất bản tập đầu của A Treatise of Human Nature. Trong đó, ông đặt một câu hỏi mà sau này sẽ mang tên ông: vấn đề của quy nạp (the problem of induction).
Hume hỏi: lý do nào ta có để tin rằng mặt trời sẽ mọc vào ngày mai? Chỉ có một cách trả lời: "vì nó đã mọc mọi ngày trong quá khứ". Hume cho chúng ta thấy một vòng tuần hoàn lập luận. Để đi từ "đã mọc trong quá khứ" sang "sẽ mọc trong tương lai", ta cần một tiền đề: rằng tương lai sẽ giống quá khứ. Nhưng tiền đề đó tự nó cần biện minh; và biện minh duy nhất ta có cho nó cũng dựa trên kinh nghiệm - tức là dựa vào chính cái mà ta đang cố biện minh. Logic không thoát khỏi vòng lặp này. Hume kết luận, một cách lạnh lùng như ông thường làm: niềm tin rằng tương lai sẽ giống quá khứ không phải là một kết luận lý tính. Nó là một thói quen tâm trí (custom, habit) - một xu hướng tâm lý do bộ não tạo ra để vận hành.
Ta không cần tới lý tính để tin rằng mặt trời sẽ mọc vào ngày mai; và lý tính cũng không thể chứng minh được chuyện đó.
Lập luận triết học nghe chừng nhàm chán này đặt ra một sự thật mà phải đến hơn 200 năm sau, khi khoa học thần kinh đủ trưởng thành, ta mới đo được: bộ não con người là một cỗ máy lập mẫu (pattern-extraction machine) trước khi nó là bất kỳ thứ gì khác. Trong Thinking, Fast and Slow (2011), Daniel Kahneman mô tả “System 1” - hệ thống tư duy nhanh, vô thức, tự động - như một “cỗ máy liên tưởng” (associative machine) liên tục tìm các mẫu lặp lại trong dòng thông tin và dùng chúng để dự đoán bước tiếp theo. Cảm giác “bình thường” mỗi ngày - đường đi quen, đồ vật ở chỗ quen, người quen phản ứng theo cách quen - không phải là một dạng nhàm chán. Nó là một báo cáo từ bộ não rằng ‘các mẫu đang khớp với dự đoán’.
:D
Đi sâu hơn nữa, Karl Friston (được nhắc đến trong bài viết trước) đã gói toàn bộ khung này vào một nguyên lý tổng quát: bộ não là một cỗ máy giảm thiểu sai số dự đoán. Mỗi hành động, mỗi tri giác, mỗi cảm xúc đều có thể được mô tả lại như một nỗ lực làm cho thế giới khớp với mô hình nội tại; hoặc ngược lại, làm cho mô hình nội tại khớp với thế giới. Mô hình nội tại được dệt nên từ gì? Từ những gì đã lặp lại. Một đứa trẻ học rằng “khi mẹ mở cánh cửa kia, bữa ăn xuất hiện” qua việc cảnh đó lặp lại đủ nhiều lần. Một người trưởng thành biết rằng “khi trời sấm, nên rút phích điện” qua các trải nghiệm hoặc các câu chuyện được kể đi kể lại. Toàn bộ nội dung mà ta gọi là “kiến thức về thế giới” là một bản đồ các mẫu đã lặp đủ nhiều để được mã hóa.
Hệ quả của khung này, đối với câu hỏi về tương lai, thường bị bỏ lỡ. Khi ta nghĩ “ngày mai”, ta đang gọi ra một dự đoán dựa trên các mẫu đã lặp. Bộ não không có cơ chế nào khác, literally không có, để tạo ra một hình dung về “ngày mai” ngoài cách tổ hợp các mẫu đã từng xảy ra. Một người chưa từng trải qua sáng có nắng không thể tưởng tượng được “ngày mai có thể có nắng”. Một người chưa từng trải qua một mối quan hệ ổn định không thể tưởng tượng được “tuần sau ta vẫn còn yêu nhau”. Một người chưa từng có công việc kéo dài hơn vài tháng không thể tưởng tượng được “năm sau vẫn ở đây”. Đây không phải là vấn đề về sự lạc quan hay bi quan. Nó là một giới hạn cấu trúc của cách bộ não dệt tương lai từ vật liệu của quá khứ.
Triết gia hiện tượng học Edmund Husserl, làm việc ở Đức đầu thế kỷ 20, đã đi đến cùng kết luận theo một con đường khác. Trong các bài giảng về ý thức thời gian (xuất bản năm 1928), Husserl mô tả mọi khoảnh khắc tri giác đều có hai đuôi: retention - níu giữ cái đã qua; và protention - dự kiến cái sắp tới. Khi ta nghe một giai điệu, mỗi nốt nhạc hiện tại được nghe trong bối cảnh của các nốt trước đó (retention) và một dự kiến mơ hồ về nốt sắp tới (protention). Không có protention, ta không nghe được giai điệu, chỉ nghe được các âm thanh không liên quan. Husserl tổng quát hóa rằng, toàn bộ tri giác về hiện tại đã chứa sẵn một cấu trúc của tương lai gần. Và cấu trúc đó được dệt từ các mẫu của quá khứ gần.
Quan sát này, khi áp vào tâm lý học, tạo ra hệ quả khó chịu: cái mà ta gọi là “tương lai của tôi” về cơ bản là một dự phóng được dệt từ các mẫu mà tôi đã từng trải qua. Một người có một quá khứ ổn định, lặp lại tốt đẹp, sẽ “thấy” một tương lai có hình thù. Một người có quá khứ đứt gãy, hỗn loạn, sẽ "thấy" một tương lai mờ. Điều này xảy ra không vì thiếu thông tin, mà vì khan hiếm mẫu để dệt.
Như vậy, quá khứ chịu đựng thương tổn khiến tương lai cũng trở nên mờ đục và tạo ra nỗi sợ về tổn thương lặp lại. Nhưng chúng ta sẽ quay về chuyện này sau. Trước khi đến đó, cần dừng ở một mệnh đề gây tranh cãi: trong một thế giới mà các mẫu lặp lại đang trở nên ít hơn, ngắn hơn, và nhân tạo hơn, bộ não Generation Z có ít vật liệu hơn để dệt một tương lai có hình thù.
Nhiều triết gia hiện đại sẽ nhảy vào và nói: “đúng, và đây là điều tốt“.
III. “Đại tự sự đã chết”
Năm 1979, triết gia Pháp Jean-François Lyotard xuất bản La Condition postmoderne, một báo cáo ngắn được Quebec ủy thác về tình trạng tri thức trong xã hội hậu công nghiệp. Cuốn sách trở thành bản tuyên ngôn của một thế hệ và đặt một thuật ngữ vào trung tâm của triết học cuối thế kỷ 20: “incrédulité à l’égard des métarécits“ - sự không tin vào các đại tự sự.
Theo Lyotard, các xã hội phương Tây hiện đại đã từng được chống đỡ bởi các “đại tự sự” (metanarratives) - những câu chuyện lớn cho phép người ta đặt cuộc đời cá nhân vào một khung ý nghĩa rộng hơn. Cứu chuộc Cơ đốc. Tiến bộ Khai sáng. Cách mạng vô sản. Sự bành trướng của lý tính khoa học. Mỗi đại tự sự là một mẫu lặp ở quy mô văn minh: nó cho người ta biết quá khứ là gì, hiện tại là gì, tương lai sẽ là gì, và cuộc đời cá nhân của họ đóng góp như thế nào. Cái Lyotard quan sát trong những năm 1970 là sự phá sản tri thức của tất cả các đại tự sự cùng một lúc. Communism phá sản đạo đức ở Liên Xô. Tiến bộ Khai sáng phá sản đạo đức ở Auschwitz. Cứu chuộc Cơ đốc đã suy yếu sẵn từ thế kỷ 19. Khoa học thì lẳng lặng tự loại bỏ vai trò triết học của mình bằng cách nhận rằng nó không có thẩm quyền nói về ý nghĩa.
Cái còn lại, theo Lyotard, là các tự sự nhỏ (petits récits) - các câu chuyện địa phương, tạm thời, được giữ bởi các cộng đồng nhỏ trong khoảng thời gian ngắn. Một nhóm bạn. Một cộng đồng online. Một fandom. Một phong trào kéo dài vài tháng. Lyotard, đáng nói, không tiếc thương các đại tự sự đã chết. Ông cho rằng chúng vốn dĩ là độc đoán, áp đặt, và việc chúng sụp đổ là cơ hội để các tiếng nói nhỏ - vốn bị áp bức bởi các đại tự sự - được lắng nghe.
Nếu Lyotard đúng - và phần lớn lý thuyết văn hóa cuối thế kỷ 20 cho rằng ông đúng - thì lập luận của bài viết này (rằng cần lặp lại để có tương lai có hình thù) đang nguy hiểm tiến gần tới sự kêu gọi quay về các đại tự sự độc đoán. Đó là một lập trường phản động về đạo đức, một lập trường mà thế hệ chiến đấu chống chủ nghĩa toàn trị thế kỷ 20 đã tốn rất nhiều máu để bác bỏ.
Triết gia Hàn Quốc-Đức Byung-Chul Han, trong Vom Verschwinden der Rituale (Sự biến mất của các nghi lễ, 2020), đẩy phản đối này đến hệ quả cuối cùng. Han mô tả một tình thế mà Lyotard chưa kịp nhìn thấy: các tự sự nhỏ cũng đã bốc hơi. Cái còn lại là một xã hội không có nghi lễ, không có cộng đồng kéo dài, không có chu kỳ chia sẻ, không có “cấu trúc thiêng” theo nghĩa Eliade - và cũng không có các đại tự sự độc đoán theo nghĩa Lyotard. Cái còn lại chỉ là các cá nhân cô độc với điện thoại, mỗi người tự chịu trách nhiệm sản xuất ý nghĩa cho chính mình, và phần lớn thất bại. Han gọi đây là tình thế của con người kiệt quệ (Müdigkeitsgesellschaft, “xã hội kiệt quệ”) - không bị đè nén bởi quyền lực bên ngoài (vì thế hệ trước đã giải phóng nó khỏi các quyền lực đó) mà bị đè nén bởi yêu cầu vô tận phải tự kiến tạo bản thân.
Han và Lyotard, dù bất đồng về đánh giá, đồng ý về một sự thật mô tả: các đại tự sự đã chết. Và đây là chỗ tôi muốn lên tiếng thông qua bài viết này: Cái chết của đại tự sự không hủy bỏ nhu cầu của bộ não đối với mẫu lặp lại. Đó là một sự kiện văn hóa, không phải một sự kiện thần kinh học. Bộ não vẫn dệt tương lai từ các mẫu. Nếu các mẫu lớn (đại tự sự) không còn, bộ não sẽ phải dệt từ các mẫu nhỏ hơn. Ta không cần hỏi “có nên có đại tự sự hay không”, ta cần chú tâm vào chuyện của mình: các mẫu mà bộ não Generation Z thực sự đang có sẵn để dệt là gì, và chúng có đủ không?
Khi đi tìm câu trả lời cho câu hỏi vừa nêu, ta phát hiện một thứ quan trọng đã bị che khuất bởi cả Lyotard lẫn Han: bên dưới các đại tự sự đã chết, có một lớp khác - lớp các mẫu lặp lại tự nhiên và văn hóa - vẫn đang vận hành.
IV. Maurice Halbwachs và lớp ngầm của ký ức tập thể
Năm 1925, một nhà xã hội học Pháp tên Maurice Halbwachs xuất bản Les cadres sociaux de la mémoire (Các khung xã hội của ký ức), một cuốn sách về sau sẽ được công nhận là nền tảng của lĩnh vực nghiên cứu ký ức (memory studies). Halbwachs - học trò của Émile Durkheim, sau này bị Đức Quốc xã giết tại Buchenwald năm 1945 - đặt một luận điểm mà thời ông cho là kỳ quặc và nay được coi là hiển nhiên: ký ức cá nhân không phải là cá nhân. Nó được dệt nên trong các cadres sociaux - các khung xã hội cung cấp cấu trúc cho việc ghi nhớ.
Ví dụ, một đứa trẻ “nhớ” sinh nhật của mình không phải vì bộ não đứa trẻ tự ghi lại ngày tháng, mà vì gia đình tổ chức kỷ niệm hằng năm - một sự lặp lại văn hóa biến sự kiện một-lần thành mẫu được củng cố định kỳ. Một người lớn “nhớ” ông bà mình không phải vì các neuron của họ giữ trung thành các hình ảnh cũ, mà vì các bữa giỗ, các album ảnh được lật, và các câu chuyện được kể đi kể lại trong các bữa cơm Tết. Một quốc gia “nhớ” lịch sử của mình không phải vì các công dân riêng lẻ ghi nhớ một độc lập, mà vì các đài tưởng niệm, các ngày lễ, các bài học trong sách giáo khoa, các phim được chiếu lại. Ký ức là một sản phẩm của lặp lại tập thể.
Sử gia người Anh Paul Connerton, trong How Societies Remember (1989), mở rộng nghiên cứu của Halbwachs, tạo ra một phân biệt quan trọng. Connerton phân biệt giữa ký ức tự sự (được kể bằng lời, trong các câu chuyện) và ký ức tập quán (habit memory, được lưu trong cơ thể qua nghi thức và động tác). Cách một người đi xe đạp, cách họ chào lễ trong chùa, cách họ đặt đũa lên bát khi ăn xong, cách họ đứng khi quốc ca vang lên - tất cả là ký ức tập quán được khắc vào cơ thể qua sự lặp lại thân thể. Connerton lập luận rằng các xã hội truyền lại bản thân chủ yếu qua loại ký ức thứ hai này, không phải qua sách hay bài giảng. Một xã hội mà ký ức tập quán bị xói mòn không thể tự duy trì, dù nó vẫn còn các sách lịch sử.
Khung Halbwachs–Connerton mở ra một góc nhìn quan trọng cho câu hỏi của bài viết này. Khi Lyotard nói “các đại tự sự đã chết”, ông đang nói về tầng tự sự rõ ràng - những câu chuyện được kể bằng lời. Khi Han nói “các nghi lễ đã biến mất”, ông đang chỉ ra rằng tầng thứ hai - tầng ký ức tập quán, tầng các mẫu lặp lại được khắc vào cơ thể - cũng đang bị xói mòn. Nhưng xói mòn không có nghĩa là biến mất. Khi nhìn kỹ vào đời sống thực sự của một người Generation Z trung bình ở Hà Nội, Sài Gòn, Tokyo, hay Berlin, ta vẫn thấy hàng trăm mẫu lặp lại đang vận hành. Nhưng chúng đã không được chú tâm và hệ thống hoá.
Mỗi sáng mặt trời mọc; đây là một mẫu lặp tự nhiên, đáng tin cậy hơn bất kỳ định chế nào của con người. Mỗi tuần có thứ Hai. Mỗi tháng có rằm. Mỗi năm có Tết. Cây ngoài cửa sổ rụng lá vào mùa nhất định. Cơn mưa Sài Gòn mỗi chiều tháng Sáu. Mẹ gọi điện hỏi đã ăn cơm chưa. Một quán cà phê quen có một cô chủ vẫn ở đó. Một buổi cà phê hàng tuần với hai người bạn cũ. Một cuộc gọi video với ông bà vào Chủ nhật. Một bài tập yoga được lặp lại vào sáng sớm. Một quyển nhật ký được mở ra trước khi ngủ. Mỗi cái là một sợi chỉ - nhỏ hơn một đại tự sự, nhỏ hơn một nghi lễ tôn giáo công cộng, nhưng vẫn là một mẫu lặp lại, vẫn là một sợi mà bộ não có thể dùng để dệt protention vào ngày mai.
Đây là chỗ mà tôn giáo, truyền thống, và văn hóa quay trở lại cuộc trò chuyện; không dưới dạng tín điều, mà là cấu trúc hạ tầng cho sự lặp lại. Một người trẻ ngày nay có thể không tin vào một vị thần. Nhưng nếu họ vẫn lên chùa vào rằm và mùng một, vẫn cúng giỗ ông bà, vẫn dọn bàn thờ ngày Tết, họ đang tham gia vào một mạng lưới các mẫu lặp lại đã được duy trì qua hàng chục thế hệ. Mạng lưới này, độc lập với câu hỏi nó có “đúng” về siêu hình hay không, vẫn làm một việc thực tế: nó cung cấp cho bộ não của chúng ta các sợi chỉ ổn định để dệt tương lai. Một thanh niên hoàn toàn cắt đứt khỏi mọi truyền thống - vì các lý do trí tuệ chính đáng - về mặt thần kinh học đang đứng ở vị trí của một thợ dệt với rất ít vật liệu. Họ không sai về siêu hình. Nhưng họ thiếu sợi để dệt.
Tôi không nói về việc giả vờ tin. Tôi nói rằng, trong khi các đại tự sự đã chết, các cấu trúc lặp lại mà chúng đã từng chở theo vẫn còn giá trị độc lập. Người ta có thể tham gia vào lặp lại mà không cần ký vào tín điều. Nhiều nhà nhân học và xã hội học hiện đại - từ Robert Bellah trong Religion in Human Evolution (2011) đến Tara Isabella Burton trong Strange Rites (2020) - đã ghi nhận hiện tượng này: những người phi tôn giáo đang tích cực tái lập các mẫu lặp lại có cấu trúc tương tự nghi lễ - meditation retreats, tập gym có lịch trình, sober curiosity, weekly therapy, group đọc sách định kỳ. Cấu trúc thiêng theo nghĩa Eliade đang tự tái sinh dưới những vỏ bọc thế tục, vì bộ não vẫn cần các mẫu.
Cho đến đây, mọi thứ nghe có vẻ tương đối lạc quan. Ta vẫn còn các sợi. Ta có thể chủ động dệt. Đã đến lúc ta đối diện với phần bóng tối của sự lặp lại.
V. Khi sự lặp lại không cứu rỗi mà giam cầm
Năm 2014, một bác sĩ tâm thần người Hà Lan nhập tịch Mỹ tên Bessel van der Kolk xuất bản The Body Keeps the Score. Cuốn sách dựa trên ba thập kỷ làm việc lâm sàng với các bệnh nhân chấn thương - cựu binh trở về từ Việt Nam, nạn nhân lạm dụng tình dục, người sống sót sau bạo lực gia đình. Luận điểm trung tâm của cuốn sách là, chấn thương không phải một ký ức được lưu trữ như bình thường. Nó là một mẫu được khắc vào hệ thần kinh tự chủ và vào cơ thể, và nó tự lặp lại không qua sự kiểm soát của ý thức.
Lặp lại là vật liệu của tương lai. Đúng. Nhưng không phải mọi lặp lại đều cùng loại. Có những lặp lại được chọn, như Sengū của Ise, như nghi lễ ngày rằm, như buổi cà phê với bạn. Và có những lặp lại bị áp đặt, như tiếng nổ hồi tưởng của một cựu binh, như cảnh giác siêu nhạy của người sống sót sau bạo lực, như nỗi sợ bị bỏ rơi của một đứa trẻ từng bị bỏ rơi.
Loại thứ hai là cái mà van der Kolk gọi là lặp lại chấn thương. Cơ chế thần kinh học của nó, được nghiên cứu chi tiết bởi Joseph LeDoux và những người khác từ những năm 1990, liên quan đến amygdala (hạch hạnh nhân) - vùng não xử lý đe dọa. Khi một sự kiện đe dọa nghiêm trọng xảy ra mà não không thể xử lý hết - vì cường độ quá lớn, vì cá nhân không có đủ công cụ tâm lý - nó được lưu dưới dạng “khuôn mẫu cảnh giác về chuyện đang diễn ra” thay vì dưới dạng “ký ức về một sự kiện đã qua”. Mỗi lần một tín hiệu giống với tín hiệu ban đầu xuất hiện - một âm thanh, một mùi, một biểu cảm khuôn mặt, một bối cảnh - toàn bộ phản ứng được kích hoạt lại như thể sự kiện đang xảy ra. Đây là PTSD theo định nghĩa lâm sàng. Đây cũng, theo van der Kolk, là một loạt các tình trạng “dưới ngưỡng” mà nhiều người không nhận ra mình đang có: lo âu mãn tính, các kiểu mối quan hệ lặp lại, các cơn hoảng loạn không lý do, các phản ứng quá mức với những kích thích nhỏ.
Hệ quả của cơ chế này, theo logic mà bài viết đã dựng từ đầu, là khắc nghiệt. Nếu bộ não dệt tương lai từ các mẫu đã lặp, và nếu một số mẫu trong kho lại là các mẫu chấn thương tự kích hoạt, thì tương lai mà người đó “thấy” sẽ luôn chứa các phiên bản của chấn thương. Điều này không phản ánh họ bi quan, hay họ muốn nhìn vào sự tiêu cực. Cỗ máy lập mẫu - vốn không phân biệt giữa “mẫu bị áp đặt một lần và đáng quên” với “mẫu bình thường đáng dự đoán” - đang dùng chấn thương như vật liệu dệt. Một người từng bị phản bội sẽ “thấy” sự phản bội trong tương lai. Một người từng bị bỏ rơi sẽ “thấy” sự bỏ rơi. Một thế hệ lớn lên trong khủng hoảng tài chính, đại dịch, và bất ổn khí hậu sẽ “thấy” khủng hoảng kéo dài. Đây là một sự thật về cấu trúc thần kinh, không phải một thất bại của thái độ.
Vì đang nói về bệnh lý, ta sẽ cần xem xét cẩn trọng. Tôi cũng mong nhận được góp ý về cả bài viết, nhưng hơn hết là phần này.
Một sai lầm phổ biến trong các diễn ngôn về chấn thương là quá-bệnh-lý-hóa các trải nghiệm khó khăn bình thường, biến mỗi căng thẳng thành “trauma” và mỗi cá nhân thành nạn nhân. Đó không phải điều tôi muốn nói. Ý tôi là: ngay cả khi không tới mức PTSD lâm sàng, cơ chế cơ bản - não dùng các mẫu đã lặp để dự đoán tương lai - không phân biệt giữa các mẫu lành và các mẫu đau. Nếu các mẫu lành chiếm tỷ trọng lớn, tương lai có hình thù đáng tin. Nếu các mẫu đau chiếm tỷ trọng lớn, tương lai có hình thù đáng sợ. Và phần lớn người không có đặc quyền chọn quá khứ của mình.
Vậy, bạn sẽ thắc mắc: quá khứ có thể sửa được không?
Câu trả lời, là có. Nhưng “sửa” không hẳn giống cái ta nghĩ.
Năm 2000, một nhà thần kinh học Canada-Mỹ tên Karim Nader, làm việc trong phòng thí nghiệm của Joseph LeDoux tại NYU, công bố trên Nature một bài báo đã thay đổi cách hiểu về ký ức. Nader đã chỉ ra - bằng các thí nghiệm trên chuột - rằng khi một ký ức được nhớ lại, nó không đơn giản là được “đọc” từ ổ cứng và đặt lại nguyên vẹn. Nó tạm thời trở thành labile - dễ bị sửa đổi. Trong khoảng vài giờ sau khi được kích hoạt lại, ký ức ấy phải được tái tạo (reconsolidated) bằng tổng hợp protein trong các neuron. Nếu quá trình tổng hợp này bị can thiệp, ký ức không được tái lưu - và ở lần nhớ kế tiếp, nó đã thay đổi.
Hệ quả của khám phá này, được nhân rộng và mở rộng qua hai thập kỷ kế tiếp, là một sự dịch chuyển cách hiểu về bản chất của ký ức. Ký ức không phải là bản ghi chép quá khứ. Nó là một sự tái dựng lại quá khứ mỗi lần ta nhớ. Mỗi lần nhớ là một cơ hội để bản tái dựng đó hơi khác với bản trước. Quá khứ, theo nghĩa chặt nhất, không cố định - nó được viết lại bằng mỗi lần nhớ.
Đây là cơ sở thần kinh học của một lĩnh vực trị liệu phát triển mạnh từ những năm 2000: các kỹ thuật như EMDR (Eye Movement Desensitization and Reprocessing), Internal Family Systems, Somatic Experiencing, Memory Reconsolidation Therapy của Bruce Ecker. Tất cả đều khai thác cùng một cơ chế: kích hoạt một ký ức đau, đưa vào bối cảnh ấy một thông tin trải nghiệm mới (an toàn, đồng cảm, lý do mới), và để bản tái dựng kế tiếp được lưu với một hương vị khác. Sau đủ chu kỳ, ký ức không biến mất - nhưng nó không còn cùng cường độ, không còn cùng cấu trúc kích hoạt, không còn dệt cùng cái bóng vào tương lai.
Lưu ý, đây không phải phép thuật, không phải tự thôi miên, và không thay thế việc làm việc với chuyên gia có đào tạo cho các trường hợp chấn thương nặng. Nhưng nó cũng là điều mỗi người có thể làm, ở quy mô nhỏ, mỗi ngày - qua nhật ký, qua việc kể lại một câu chuyện cũ với một góc nhìn mới, qua việc trở lại một địa điểm gắn với một ký ức tệ và tạo các mẫu mới ở đó, qua việc tham gia vào các quan hệ ổn định lâu dài cung cấp các mẫu thay thế cho các mẫu cũ. Nhà phân tâm học Carl Jung nói, một câu thường bị diễn giải nhầm, rằng: “cho đến khi bạn làm vô thức trở thành ý thức, nó sẽ điều khiển đời bạn và bạn sẽ gọi đó là số phận”.
Cho đến khi bạn nhận thức các mẫu lặp đang điều khiển hình dung tương lai của bạn, chúng sẽ điều khiển nó, và bạn sẽ gọi đó là tương lai.
VI. Thực hành - về việc chọn các sợi mình muốn dệt
Đến đây, tất cả các sợi của bài viết hội tụ lại thành một bộ thực hành. Một logic có thể rút ra được theo cấu trúc của các argument đã dựng chứ không chỉ thuần túy self-help.
Logic là thế này. Bộ não dệt tương lai từ các mẫu đã lặp. Chất lượng tương lai có hình thù phụ thuộc vào chất lượng của của vốn lặp lại. Vốn lặp lại của một cá nhân hiện đại được dệt từ ba lớp: tự nhiên (chu kỳ ngày-đêm, mùa, sinh học cơ thể), văn hóa (nghi lễ, truyền thống, lịch chung), và cá nhân (thói quen, lựa chọn lặp). Các đại tự sự đã chết; các nghi lễ công cộng đã yếu; nhưng ba lớp cơ chế này vẫn vận hành, ở các mức độ khác nhau, cho mỗi người. Vậy, ta nên có thái độ thế nào với chúng.
1. Lớp tự nhiên là lớp đáng tin cậy nhất, và là lớp mà thế hệ điện thoại đang đánh mất tiếp xúc nhanh nhất. Mặt trời mọc, mùa thay đổi, cơ thể có chu kỳ ngủ-thức và chu kỳ kinh nguyệt và chu kỳ đói-no - tất cả là các mẫu lặp lại đáng tin hơn bất kỳ định chế nào. Một người trẻ thức dậy vào một giờ ngẫu nhiên, ăn vào lúc tiện lợi, ngủ khi điện thoại cho phép, đang tự cắt đứt khỏi tầng nền tảng nhất của lặp lại. Thực hành đầu tiên không cần cao siêu, chỉ cần tập trung tái tạo lại thói quen sống theo các chu kì tự nhiên: ngủ và thức ở giờ cố định, ăn vào giờ cố định, ra ngoài thấy ánh sáng tự nhiên hằng ngày. Đây không phải lời khuyên về sức khỏe (dù nó cũng là), đây là lời khuyên về mặt nghi thức, nhằm phục hồi tầng vật liệu cơ bản nhất của tương lai.
2. Lớp văn hóa đòi hỏi lựa chọn có ý thức. Phần lớn lớp này được thừa hưởng - Tết, giỗ, các ngày kỷ niệm gia đình, các nghi thức tôn giáo của cộng đồng mình lớn lên - và phần lớn cộng đồng hiện đại đang xem nhẹ chúng vì lý do trí tuệ chính đáng (chúng “không có cơ sở khoa học”, “lạc hậu”, “vô lý”). Lập luận của bài này không nói các lý do trí tuệ ấy sai. Đúng, nhiều thứ đã cổ hủ, nhưng ta cần thay thế hơn là bãi bỏ. Một người không cúng giỗ ông bà có thể, thay vào đó, gọi điện cho cha mẹ vào một ngày cố định mỗi tuần. Một người không lên chùa rằm có thể có một thực hành thiền cố định. Một người không ăn Tết kiểu truyền thống có thể có một nghi lễ kết năm tự thiết kế nhưng được giữ từ năm này qua năm khác. Cốt lõi không phải nội dung là gì; cốt lõi là tính lặp lại của hình thức trên dòng thời gian dài.
3. Lớp cá nhân là nơi tự do của một người được thực hiện đầy đủ nhất. Đây là chỗ mà câu hỏi của Phần II của bài - “ta có thể chủ động thay đổi đời mình được không?” - được trả lời. Có. Mỗi cam kết được giữ là một sợi. Mỗi lịch hẹn không bị hủy. Mỗi buổi cà phê hằng tuần với cùng nhóm bạn. Mỗi cuốn sách đọc xong vào cuối năm. Mỗi chuyến đi cùng người yêu vào tháng hè. Mỗi lần viết nhật ký vào cùng giờ trước khi ngủ. Mỗi bữa cơm mẹ nấu được ăn cùng. Một cá nhân đơn lẻ không thể tạo lại đại tự sự. Họ có thể tạo các vi-tự sự - các mẫu lặp ở quy mô tuần, tháng, năm, thập kỷ - và sau đủ thời gian, các vi-tự sự ấy hợp lại thành một thứ rất giống với một câu chuyện đời có hình thù.
Cuối cùng, có một thực hành không thuộc về việc dệt sợi mới mà thuộc về việc xử lý sợi cũ, cũng là phần khó nhất và quan trọng nhất. Đó là công việc với ký ức. Mỗi lần một ký ức đau quay lại - và nó sẽ quay lại, vì đó là việc của ký ức - là một lần ký ức ấy ở trạng thái labile, có thể được tái lưu hơi khác. Ta không giả vờ rằng quá khứ không xảy ra. Ta để phiên bản kế tiếp của ký ức ấy được lưu với một bối cảnh rộng hơn, một sự đồng cảm với chính mình ở thời điểm đó. Một nhận thức rằng người đã chịu đựng chuyện đó, và người đang nhớ bây giờ, không hoàn toàn cùng một người. Trong các trường hợp nặng, công việc này cần làm với chuyên gia. Trong các trường hợp nhẹ, nó có thể được làm qua nhật ký, qua trò chuyện sâu với người tin cẩn, qua các thực hành chiêm nghiệm.
Trong The Body Keeps the Score, Van der Kolk viết đại ý: trauma không phải là câu chuyện về một sự kiện đã qua; nó là dấu vết mà sự kiện ấy đã để lại trên cơ thể, trên các mối quan hệ, và trên khả năng tưởng tượng tương lai của bạn. Như vậy, phục hồi không phải là kể lại đúng câu chuyện. Ta cần làm giảm dấu vết - qua các trải nghiệm mới, các mẫu lặp lành tính hơn, các quan hệ ổn định, và đôi khi qua trị liệu chuyên môn. Ta được kể tổn thương của mình ở nơi an toàn hơn, và nói lại trải nghiệm nhớ đời của mình theo cách tự tin hơn.
VII. Quay lại Ise, và một câu hỏi cuối
Năm 2026, tại khu rừng hinoki ở miền trung Nhật Bản, các thợ mộc đang chuẩn bị cho lần Sengū thứ 63. Phần lớn thợ mộc đã làm lần thứ 62 năm 2013 nay đã già; một số đã chết. Các học viên đang được đào tạo bây giờ là những người sẽ thực hiện phần lớn công việc cho lần thứ 63 vào năm 2033. Những người đang chỉ huy việc đào tạo cũng từng là học viên trong lần thứ 61 (1993). Chuỗi truyền thống không nằm trong cá nhân nào; nó nằm trong sự lặp lại của hành động tập thể.
Giờ ta đã biết câu hỏi du khách phương Tây hỏi khi đến Ise, “đền nào là thật?”, sai ở đâu. Ngôi đền không phải là gỗ. Ngôi đền là hành động xây ngôi đền. Cái có thật là chuỗi lặp lại không gián đoạn của hành vi xây - phần vật chất được tạo nên bởi hành vi ấy chỉ là một biểu hiện tạm thời. Khi gỗ mục, biểu hiện ấy được thay, còn bản thân ngôi đền không bị ảnh hưởng. Đây không phải lời bình triết học, mà chính xác là cách các tu sĩ Shinto của Ise hiểu công việc của họ. Ngôi đền tồn tại bằng việc được xây lại.
Tương lai của một người, như vậy, có cùng cấu trúc. Nó không phải là một vùng có sẵn ngoài kia. Nó cũng không phải là một sự kiện sẽ xảy ra. Nó là chuỗi các hành động đang được lặp lại bây giờ, đến năm sau, đến mười năm sau. Mỗi cam kết được giữ là một cây cột được dựng. Mỗi mẫu được duy trì là một mái được lợp. Mỗi ký ức được tái lưu trong bối cảnh tốt hơn là một sàn được đặt lại. Khi các mẫu đứt - vì chấn thương, vì biến cố, vì các định chế xã hội thất bại - vật liệu tương lai bị hao hụt. Khi các mẫu được duy trì hoặc tái thiết, vật liệu tương lai được phục hồi.
Một thanh niên Generation Z đứng ở đầu đời người, lớn lên trong môi trường nơi các đại tự sự đã chết và các tự sự nhỏ thì mỏng và dễ vỡ, đang đối diện một câu hỏi mà các thế hệ trước không đối diện ở cùng cường độ: anh quyết định lặp lại điều gì? Như vậy, anh ta không nên nghĩ về việc muốn trở thành ai trong tương lai (tương lai không phải là một nơi để trở thành). Anh ta cần chọn dệt cái gì vào hiện tại lặp đi lặp lại của mình. Mỗi lựa chọn là một sợi. Mỗi sợi được giữ qua thời gian là một phần ngôi đền của anh. Và như mọi ngôi đền, nó tồn tại bằng việc được xây lại.
Phần lớn các diễn ngôn hiện đại về tương lai trao cho cá nhân quá nhiều lựa chọn (hãy là chính mình, hãy theo đuổi đam mê, hãy thiết kế cuộc đời) và quá ít công cụ để thực hiện. Bài viết này đề xuất ngược lại. Phần lớn vật liệu để dệt tương lai không nằm trong tay cá nhân - nó là chu kỳ tự nhiên, là di sản văn hóa, là các định chế xã hội, là cộng đồng. Cái nằm trong tay cá nhân không phải là việc tạo tương lai từ không khí, mà là việc chọn tham gia vào những lặp lại nào. Đây là một dạng tự do hẹp hơn nhưng thực hơn. Một tự do đo bằng việc giữ các cam kết, không phải đo bằng việc tuyên bố các giấc mơ.
Edward Lloyd ở quán cà phê 1688, các thợ mộc Ise năm 2026, một người trẻ ở Hà Nội đang giữ lịch cà phê hằng tuần với bạn cũ và những chuyện họ chọn lặp lại khác - tất cả đang làm cùng một việc, ở các quy mô rất khác nhau. Họ đang dệt vật liệu mà từ đó tương lai có thể được nhìn thấy. Việc họ đang làm không phải là chuẩn bị cho tương lai. Đó chính là tương lai, được tạo ra ở thì hiện tại, từng sợi một, từng ngày một.
Trong ngắn hạn, một người có thể thốt lên “tôi không thấy tương lai của tôi”. Về mặt phương pháp, câu nói ấy là một báo cáo về tình trạng vốn lặp lại đang có. Sự thiếu vốn lặp lại là một vấn đề, nhưng không phải kết luận bi quan. Vốn lặp lại có thể được tăng. Các sợi có thể được chọn. Các ký ức có thể được tái lưu trong bối cảnh tốt hơn. Cây hinoki có thể được trồng cho lần Sengū kế tiếp.
Lần Sengū thứ 63 sẽ diễn ra năm 2033. Lần thứ 64, năm 2053. Lần thứ 65, năm 2073. Người đọc bài viết này nếu năm nay 22 tuổi sẽ 49 tuổi vào năm 2053, 69 tuổi vào năm 2073. Đến lúc đó, ngôi đền vẫn sẽ ở đó. Một ngôi đền đang là, được xây lại lần thứ ba kể từ bây giờ. Vào lúc ấy, tôi biết bạn sẽ không còn tự hỏi “liệu đây có phải cùng một ngôi đền”. Tôi chỉ tò mò, liệu lúc ấy bạn có nhớ lại bài viết này, không. Bạn có ngẫm lại đời mình một lần nữa và điều chỉnh nó ngay sau khi nghĩ lại, hay không. Bạn có nhớ bài viết đã từng tháo dỡ đời bạn ra một lần để dựng lại, và bạn có biết tự làm điều đó một cách có phương pháp hơn chưa?
Chúng ta không cần tới tương lai để kiểm chứng những giả định ấy. Ta có thể sống trong nó ngay ở thời điểm hiện tại.
Thank you for reading.
Tham khảo
[1] Eliade, Mircea. Le Mythe de l’éternel retour: archétypes et répétition. Paris: Gallimard, 1949. (Bản tiếng Anh: The Myth of the Eternal Return: Cosmos and History, Princeton University Press, 1954.)
[2] Hume, David. A Treatise of Human Nature. London, 1739–1740.
[3] Husserl, Edmund. Vorlesungen zur Phänomenologie des inneren Zeitbewusstseins (Bài giảng về hiện tượng học của ý thức thời gian nội tại). Halle: Niemeyer, 1928.
[4] Kahneman, Daniel. Thinking, Fast and Slow. New York: Farrar, Straus and Giroux, 2011.
[5] Lyotard, Jean-François. La Condition postmoderne: rapport sur le savoir. Paris: Éditions de Minuit, 1979.
[6] Han, Byung-Chul. Vom Verschwinden der Rituale: Eine Topologie der Gegenwart. Berlin: Ullstein, 2019. (Bản tiếng Anh: The Disappearance of Rituals, Polity, 2020.)
[7] Halbwachs, Maurice. Les cadres sociaux de la mémoire. Paris: Alcan, 1925.
[8] Connerton, Paul. How Societies Remember. Cambridge: Cambridge University Press, 1989.
[9] Bellah, Robert N. Religion in Human Evolution: From the Paleolithic to the Axial Age. Cambridge, MA: Harvard University Press, 2011.
[10] Burton, Tara Isabella. Strange Rites: New Religions for a Godless World. New York: PublicAffairs, 2020.
[11] van der Kolk, Bessel. The Body Keeps the Score: Brain, Mind, and Body in the Healing of Trauma. New York: Viking, 2014.
[12] LeDoux, Joseph. The Emotional Brain: The Mysterious Underpinnings of Emotional Life. New York: Simon & Schuster, 1996.
[13] Nader, Karim, Glenn E. Schafe, và Joseph LeDoux. “Fear memories require protein synthesis in the amygdala for reconsolidation after retrieval.” Nature 406 (2000): 722–726.
[14] Ecker, Bruce, Robin Ticic, và Laurel Hulley. Unlocking the Emotional Brain: Eliminating Symptoms at Their Roots Using Memory Reconsolidation. New York: Routledge, 2012.
[15] Teeuwen, Mark, và John Breen. A New History of Shinto. Chichester: Wiley-Blackwell, 2010. (Tham khảo cho lịch sử của Đền Ise và nghi lễ Shikinen Sengū.)
No posts

Comments
Nothing yet. Say the first thing.
Sign in to join the conversation.