Một người bạn của tôi vừa mở một quán rượu vang ở Sài Gòn. Một nơi chuyên để người ta ngồi với một ly vang không nhớ nổi tên và chuyện trò đến quá nửa đêm, khác hẳn quán bia hay bar pha chế trong trung tâm thành phố. Nói đây là hiện tượng hoàn toàn mới thì sai, vì các nhà nhập khẩu rượu vang đã có mặt ở Việt Nam nhiều thập niên nay; nhưng hình thức ấy thì mới thật. Rượu vang đã rời khỏi các bàn tiệc cưới trưởng giả để trở thành chất liệu cho cuộc gặp gỡ đô thị non trẻ, thế chỗ của trà đá và bia hơi, cũng muốn gạt luôn cái lối pha chế đậm tính trình diễn của các quầy cocktail bar thời thượng ra ngoài lề.
Điều ấy có ý nghĩa gì? Trên bề mặt, lại là một lần lặp lại nữa của cơn khát trưởng giả mà người Việt đô thị đã quen mắt, thêm một món hàng nhập cảng từ phương Tây kèm theo vài khái niệm mượn tạm và vài tấm biển viết bằng tiếng nước ngoài với một chút sáng tạo. Nhưng nhìn kĩ thì khác. Những người trẻ kia không gọi rượu theo niên vụ, cũng không diễn vai chuyên gia. Họ uống vang vì trong cái ly ấy có điều gì đó hứa hẹn một thứ mà cà phê lẫn bia không mang lại: một không gian trò chuyện mà cách gọi cho đúng, tuy nghe lạ tai, là thiêng liêng.
Họ không ý thức mình đang tìm cái thiêng. Nói ra điều ấy, hẳn họ sẽ bật cười. Nhưng đó chính là điều mà Hamvas đã đoán trúng từ trước khi họ sinh ra.
Cuốn sách này thật sự rất trầy trật để đọc được, bởi A bor filozófiája chưa có bản dịch Việt ngữ, và bản Anh ngữ cũng chỉ tồn tại qua vài ấn bản nhỏ lẻ; phần lớn kiến văn về Hamvas phải chắt qua nguyên bản Hung ngữ với mấy mẩu chuyển sang tiếng Đức của giới nghiên cứu Trung Âu. Cuốn sách mở đầu bằng một câu bâng quơ: rốt cuộc, chỉ còn lại hai thứ, Thượng Đế và rượu vang. Câu ấy trong miệng kẻ khác có thể bị xem là khoa trương, nhưng trong miệng Hamvas, nó là lời tuyên thệ về phương pháp. Cuốn sách mang phụ đề “Kinh cầu cho những kẻ vô thần”, và cái phụ đề báo trước rằng tác giả sẽ không luận chiến, không cải đạo, không chứng minh gì theo lối hộ giáo thông thường. Ông rót rượu và để người đọc tự thấy điều cần thấy.
Hamvas Béla sinh năm 1897, tạ thế năm 1968 trong cảnh gần như vô danh. Chế độ phát xít cấm tác phẩm của ông vì ông là triết gia của cái tinh thần mà họ không kiểm soát nổi; chế độ cộng sản cấm ông vì lí do ngược lại, ông là triết gia của cái tinh thần mà họ không thể phá hủy nổi. Suốt hai thập niên sau 1948, ông bị tước quyền xuất bản và giảng dạy, phải đi làm phu khuân đá ở một nhà máy điện. Hầu hết các bản thảo lớn của ông được viết trong thời kì ấy, giữa những ca lao dịch, trong những đêm mà một người bình thường chỉ còn đủ sức để ngủ. A bor filozófiája ra đời vào mùa hè 1945, thời điểm Hungary đang chuyển từ ách này sang một cái ách khác mà chưa kịp thở. Cuốn sách được viết bởi một người đã biết trước mọi thể chế rồi sẽ tan rã, và biết cái còn lại khi thể chế đến hồi cáo chung là những hình thức thầm kín mà con người phải giữ lấy để khỏi chết đuối trong trừu tượng. Một nhà siêu hình học mà đối tượng là cái toàn thể, chứ không phải một kẻ tài tử nhấm nháp triết lí cho vui; rượu vang chỉ là một trong vô số mặt nạ ông chọn để nói về cái toàn thể ấy.
Điểm xuất phát của Hamvas là hiện tượng học giác quan, và cách ông đặt vấn đề khác hẳn với lối Tây phương quen thuộc. Mắt, theo Hamvas, là giác quan trừu tượng nhất: nó không bao giờ chạm vào đối tượng, luôn giữ khoảng cách. Tai thì gần hơn, tay có thể nắm giữ, còn mũi hít hơi bốc lên. Nhưng miệng thì tiêu hóa; miệng biến thế giới thành một phần của chính mình. “Chỉ khi nào đã nếm một vật, người ta mới biết vật ấy thực sự là gì”. Đứa trẻ sơ sinh hiểu điều này bằng bản năng; người lớn đã quên đi, hoặc chỉ coi đó là một hành động xuẩn ngốc. Michel Serres, trong Les cinq sens, đã chỉ ra truyền thống triết học Tây phương, từ Platon trở đi, luôn ưu ái con mắt và cảnh giác với cái miệng, bởi mắt cho phép duy trì quan sát khách quan lý tưởng, còn miệng thì xóa sạch ranh giới giữa chủ thể và đối tượng. Platon không tin vào vị giác; ông tin vào theoria, cái nhìn chiêm ngắm từ xa. Cả một truyền thống siêu hình học Tây phương được xây trên sự nghi ngờ cái miệng. Hamvas đảo ngược thứ bậc ấy, gọi tên nó là szájvilág, thế giới của miệng, và khẳng định cái thiêng không thể được chiêm ngắm từ xa; nó chỉ có thể được đón nhận lấy.
Từ đó, Hamvas bước sang cái ý niệm xương sống của cuốn sách, thứ ông gọi là mặt nạ tăng lữ (hieratikus maszk). Trong vũ trụ luận của ông, mọi vật cụ thể trên đời đều là một mặt nạ, có đằng sau đó cái Nhất thể tự giấu mình. Con số ba, nốt si, sắc đen, cục chì, ngày thứ Bảy, và rượu vang, tất cả đều là những khuôn mặt của cùng một cái Nhất thể hiện diện ẩn ấy. Hamvas không nói ẩn dụ. Ông nói như một nhà siêu hình cổ điển, theo kiểu Heraclitus với câu trứ danh hen panta einai, vạn hữu là một. Mỗi cái riêng là một biểu lộ của cái chung. Rượu vang cũng chính là một mặt nạ như thế, và đằng sau nó, có ai đó đang hiện diện.
Người đọc đương thời dễ coi lối viết ấy là huyền bí kiểu cũ. Hamvas biết điều đó, và ông không quan tâm. Ông nhìn nhận mình đang viết cho những người đã sống qua đủ thế hệ duy lí để hiểu ra duy lí không đem lại điều nó hứa hẹn; còn cho những người chưa trải qua, ông để lại cuốn sách như một lời nhắc khi thời điểm ấy đến.
Ác khẩu nhất là cái nhãn chẩn đoán Hamvas dán lên người vô thần. Ông không tranh luận với họ. Ông thương xót họ. “Kẻ vô thần không phải là kẻ không có Thượng Đế; hắn là kẻ sợ Thượng Đế, và cái sợ ấy buộc hắn nói dối”. Ba giáo lí duy vật, rằng không có linh hồn, con người là động vật, hay chết là hư vô, với Hamvas đều là ba biểu hiện của sự kinh khiếp. Kẻ duy lí ngoan đạo còn tệ hơn, vì hắn giữ cái vẻ trịnh thượng của tôn giáo ở ngoài mặt trong khi thứ bên trong đã mục ruỗng; hắn sưu tầm ảnh khiêu dâm trong ngăn kéo bàn làm việc, uống pálinka thay vang vì pálinka có dư vị của tội lỗi nặng hơn. Còn kẻ thanh giáo là gã vô thần đã tuyệt vọng, biết dự án của mình đang thất bại nhưng càng thất bại càng lao tới, cách chua chát, đầy hung hăng, và sẵn sàng khủng bố tinh thần bất cứ ai dám hưởng thụ. Cả ba hạng người ấy cùng chịu chung một chứng bệnh: họ đã quên cách đón nhận lấy.
Còn một khái niệm nữa mà đối với tôi nó rất khó dịch sang tiếng Việt: feloldás, thường được chuyển ngữ là dissolution hay giải phóng, nhưng với nghĩa gốc là sự tan rã của một cái co cứng. Với Hamvas, tội tổ tông là một tư thế chứ không phải một hành động cá biệt; con người ngay từ buổi đầu đã co quắp trong mối quan hệ với Tồn tại (being), và Đại Hồng Thủy không rửa sạch cái co quắp ấy. Nhưng sau trận lụt là cầu vồng, và theo sau cầu vồng là cây nho. Có cây nho thì có feloldás. Rượu vang không trả con người về thời hồng hoang như một bước thụt lùi; nó cho người uống nếm trước trạng thái nguyên thủy như một hứa hẹn. “Cầu nối ngày đầu tiên và ngày sau rốt chỉ có thể vượt qua trong cơn say, và cơn say ấy là rượu vang.”
Chiến lược tu từ này của Hamvas không hề đơn lẻ trong lịch sử tư tưởng. Nhiều thế kỉ trước ông, các thi sĩ Sufi Ba Tư đã viết những tập thơ mà biểu tượng trung tâm là quán rượu, mey-khane, nơi kẻ đạo mạo bề ngoài không dám bước vào, nhưng nơi Thượng Đế thực sự trú ngụ. Hafez, Rumi, Omar Khayyam đã ngụy trang thần học dưới vỏ quán nhậu, gọi người rót rượu saqi như một thiên sứ, gọi cơn say masti như fana, sự tan biến của bản ngã vào cái Nhất thể. Đối tượng bị họ chế giễu là zahid, kẻ đạo mạo mà rỗng tuếch, y hệt pietista của Hamvas. Lối đi qua cửa sau đến với cái thiêng này không thuộc về một nền văn hóa riêng lẻ nào; nó là một phát hiện được thực hiện nhiều lần, ở nhiều nơi, bởi những tâm hồn đã nhận ra nói thẳng về Thượng Đế thường là cách chắc chắn nhất để không ai còn chịu nghe nữa.
Hamvas viết những dòng trên năm 1945, khi Hungary sắp bị chủ nghĩa duy vật Soviet nuốt chửng. Ông không thể hình dung mối đe dọa lớn hơn với viễn kiến của mình sẽ không đến từ các viên chính ủy vô thần, mà đến từ thứ gì đó mềm mỏng hơn nhưng cũng xảo trá hơn: cái logic thương phẩm hóa toàn diện của kinh nghiệm, rốt cuộc cũng sẽ chiếm lấy ngay cả cái ly rượu.
Để có thể thấy rõ, phải thử cập nhật bảng phân loại của Hamvas cho thời đại chúng ta. Ông đã gọi tên ba hạng người: szcientifista, pietista, và puritán. Kẻ duy khoa học không yêu mà có xung năng tính dục; không ăn mà tiêu thụ calo; đo đạc sức khỏe mình bằng những lần cân hàng tuần. Kẻ ngoan đạo giả là kẻ giữ hình thức tín ngưỡng trong khi đã rỗng nội dung, nghiêm trang trước đám đông và đồi bại trong phòng kín. Kẻ thanh giáo là kẻ vô thần đã thành tín đồ của chính chủ nghĩa vô thần, cay đắng, hiếu chiến, không bao giờ cho phép mình hay kẻ khác thưởng thức.
Ba chân dung ấy đều được tái sinh trong thời đại này, dưới những lớp áo mới.
Georges Bataille, trong khảo luận La part maudite, đã dựng lên một chẩn đoán có thể soi rõ cái điểm chung của cả ba hạng người này. Luận điểm của Bataille như sau: mọi nền kinh tế đều sản xuất thặng dư, và câu hỏi quyết định của mọi nền văn minh là câu hỏi về việc tiêu hủy cái thặng dư ấy, còn câu hỏi tích lũy chỉ là thứ yếu. Các xã hội tiền hiện đại tiêu hủy thặng dư bằng lễ hội, bằng hiến tế, bằng potlatch, bằng những hình thức phung phí có nghi thức; Hán Việt gọi cái ấy là xa xỉ thánh thiêng. Xã hội hiện đại thì khác. Nó không phung phí, nó tái đầu tư. Tiền đẻ ra tiền; thời gian đẻ ra tiền; sức khỏe đẻ ra tiền; cả nhàn rỗi cũng phải sinh lợi, bằng chứng là cả một kĩ nghệ self care đang mọc lên quanh việc biến kì nghỉ cuối tuần thành công cụ hồi phục năng suất. Cái tích lũy không bao giờ dừng. Trong trật tự ấy, uống rượu trở nên không thể hiểu nổi, bởi uống rượu là hao tổn thuần túy: thời giờ mất đi, đầu óc mơ hồ, tiền bạc bay theo, và cuối cùng không còn lại gì có thể quy về một cột nợ trong bảng tính. Cái thiêng, Bataille nhấn mạnh, chỉ sống trong chỗ phung phí. Ngôi đền vô dụng về mặt kinh tế. Lễ hội phá sản về mặt năng suất. Món quà mà người tặng đòi lại không còn là quà, chỉ là khoản cho vay. Ly rượu uống “có chừng mực” đã bị vấy bẩn, vì nó đã bị logic tích lũy bắt giữ; chỉ ly rượu uống một cách bất cần, chủ quyền, hoàn toàn thừa thãi, mới giữ được tính bí tích.
Từ đó có thể gọi tên ba kẻ tỉnh táo đương thời.
Gã tối ưu hóa sức khỏe ghi chép macro từng bữa ăn, theo dõi giấc ngủ bằng đồng hồ sinh trắc, điều chỉnh lối sống bằng những thí nghiệm biohacking gã đã nghe qua trên một podcast nào đó. Với gã, rượu vang không phải rượu vang; nó là “cồn,” và cồn là độc tố cần hạn chế hoặc loại bỏ. Gã không uống; gã “đưa ra quyết định có cơ sở về việc tiêu thụ vừa phải.” Mỗi ly phải tự biện minh trước toà án nội tâm của tuổi thọ dự kiến. Gã chính là kẻ duy khoa học của Hamvas sống lại trong những cái áo thun mà những gã CEO công nghệ ở Silicon Valley vẫn hay bận.
Cạnh gã là productivity bro, ngọng ngịu mượn danh từ Anh ngữ để miêu tả chính mình. Với gã này, thời gian là tài nguyên khan hiếm, sự chú ý là tiền tệ thế hệ mới, cơn say là thứ cản trở mọi chỉ số hiệu suất. Gã có thể cho phép mình một ly rượu vang miễn là ly ấy đi kèm một cuộc gặp networking, miễn là nó có thể truy xuất về một lợi ích kinh doanh trong tương lai gần. Gã là kẻ thanh giáo thời thượng, không mặc áo đen mà mặc áo athleisure, không cầm Kinh Thánh mà cầm điện thoại có app thiền hay lại là một biến thể của cái app sử dụng phương pháp Pomodoro. Tội của gã chẳng phải ở chỗ làm việc nhiều; rất nhiều thế hệ trước gã đã còn làm nhiều hơn và đáng được tôn trọng hơn. Tội của gã là không bao giờ ngưng tính toán được, không bao giờ tiêu cho hết được, không bao giờ đốt thời giờ mà không ghi nó vào một cái sổ nợ.
Mỉa mai hơn cả là kẻ tự nhận mình yêu rượu. Đó là kẻ đã biến rượu vang thành đề tài của chuyên môn chứ không còn là cuộc gặp gỡ với cái thiêng. Gã nói về terroir, về khoáng chất, về cấu trúc tannin; gã chụp ảnh nhãn chai, chấm điểm trên Vivino, sưu tầm, lập cellar, phô bày chuyên môn như một loại vốn văn hóa. Gã là pietista của Hamvas trong y phục mới: giữ lễ nghi trong khi đã mất đức tin. Ở chiều Bataille, gã còn bi đát hơn, vì gã đã làm cái điều mà chính hành vi uống rượu lẽ ra phải chống lại: gã tích lũy ngay cả trong khi uống. Mỗi ngụm trở thành một dữ liệu. Mỗi chai trở thành một tài sản. Mỗi buổi nếm là một chương trình bồi bổ vốn liếng xã hội. Hành vi đáng lẽ là xa xỉ thánh thiêng đã bị cải tạo thành một hình thái đầu tư khác.
Tôi không bảo hiểu biết về rượu là xấu, cũng không bảo chăm sóc sức khỏe là khờ dại. Luận điểm nên nằm ở một tầng thứ sâu hơn: cả ba hạng người cùng chia sẻ chung một tư thế căn bản, tư thế khước từ hiện diện. Họ chen các hệ thống, các đơn vị đo, các từ vựng chuyên ngành vào giữa mình và sự vật. Họ không nhận lấy được, bởi nhận lấy đòi phải buông tay khỏi tay cầm, mà cả ba hạng đã thề rằng không bao giờ buông.
Áp dụng vào hoàn cảnh của Việt Nam, những mô tả ấy không khó để nhận ra. Người viên chức trẻ Sài Gòn gọi rượu natural vì nó tín hiệu rằng anh ta sành điệu. Vị giám đốc xây hầm rượu cho ngôi nhà thứ hai ở Đà Lạt, đầu tư vào Bordeaux tương lai như đầu tư vào bất động sản. Người có ảnh hưởng trên mạng thay bia bằng rượu vang vì “chất chống oxi hóa”, vì “tốt cho tim mạch.” Toàn những mục tiêu Hamvas đã nhắm, sinh ra lại dưới hình hài châu Á. Cạnh bên đó, một thế hệ lớn tuổi coi rượu vang là “rượu Tây” là thứ trưởng giả ngoại lai, trong khi văn hóa nhậu của chính họ đã chai cứng thành thói quen và đánh mất chiều kích thiêng từ lâu.
Hamvas sẽ nhận ra tất cả họ. Nhưng có lẽ ông sẽ bận tâm hơn về một hiện tượng ông chưa lường tới: sự ra đời của một thứ văn hóa rượu vang nói bằng ngôn ngữ của tính xác tín, của thủ công, của tự nhiên, mà thực hành thì vẫn là thực hành của chính cái trừu tượng ông khinh bỉ.
Đến đây phải hỏi thẳng một câu mà Hamvas không kịp hỏi: điều gì xảy ra khi chính rượu vang cũng đã bị trừu tượng hóa?
Là du lịch rượu vang: chuyến thăm vườn nho được đóng gói thành tour, chụp ảnh, gắn hashtag, hậu kì nhanh lẹ trên điện thoại với tông nâu mật ong thời thượng. Phòng nếm trở thành cửa hàng bán lẻ. Người làm rượu trở thành diễn viên biểu diễn chính mình cho đoàn khách trả phí. Là đầu tư rượu vang: Bordeaux tương lai, những cuộc đấu giá ở Christie’s và Sotheby’s, các quỹ chỉ số rượu vang, rượu vang như một hạng mục tài sản. Chai rượu được mua, cất trong hầm điều khiển khí hậu, chuyền tay qua nhiều chủ sở hữu mà không ai mở ra. Giá vẫn tăng những chẳng cần đến ai phải nếm. Hệ ý thức rượu natural: toàn bộ gánh nặng đạo đức được gán cho tự nhiên, hữu cơ, biodynamic, thường bởi những kẻ không thể phân biệt bằng vị giác trong một bài test mù. Sự sùng đạo của quá trình lên men không còn là sùng đạo thật; nó chỉ là pháp thuật của các phù hiệu. Đó còn là rượu vang Instagram: ánh nắng vàng từ quầy hắt ra, bàn tay cầm ly nghiêng nhẹ, bóng đổ vừa phải, và nội dung được tiêu thụ bằng mắt chứ không bao giờ bằng miệng.
Hamvas giả định rượu vang sẽ giữ được quyền năng bí tích của mình đơn giản vì nó là rượu vang. Nhưng cái logic của thương phẩm hóa không chừa bất kì thứ gì. Nó biến mọi vật thành nội dung, thành khoản đầu tư, thành dấu hiệu căn tính, thành phù hiệu. Cái mặt nạ tăng lữ bị đem ra chụp ảnh, bị dán nhãn, bị định giá; và đằng sau nó, càng lúc càng không còn ai.
Vậy viễn kiến của Hamvas bây giờ còn là gì khác ngoài hoài niệm? Hay nó đã là hoài niệm ngay từ năm 1945, một sự luyến tiếc đối với cái thế giới được thần thánh hóa đã mất từ lâu trước đó?
Cái còn lại, nếu nó vẫn còn, có thể chỉ còn là khả thể. Rượu vang vẫn có thể là mặt nạ tăng lữ, nhưng chỉ cho những ai biết cách tiếp cận. Mặt nạ không tự hiện ra cho chuyên gia, cho kẻ tối ưu, cho nhà đầu tư. Nó hiện ra cho người chịu tiếp nhận mà không đòi hỏi. Chính vì thế Hamvas nhấn mạnh szertartástan, nghi thức học của rượu: uống khi nào, uống thế nào, uống với ai. Nghi thức không phải trang trí; nghi thức là hạ tầng của hiện diện. Thiếu nó, rượu vang chỉ là nước nho lên men, và cái ly chỉ là một cái vỏ đựng làm bằng thủy tinh.
Ivan Illich, trong Tools for Conviviality, phân biệt hai loại công cụ mà con người dùng để mở rộng khả năng của mình. Công cụ thân hữu, convivial tool, là công cụ ai cũng có thể dùng mà không cần chuyên gia trung gian, không tạo ra sự phụ thuộc vào một tầng lớp được chứng nhận. Cái xe đạp là thân hữu. Con dao nhà bếp là thân hữu. Cây đàn, cuốn sách, cái bếp, tất cả đều thân hữu. Ngược lại, công cụ thao túng, manipulative tool, là công cụ tạo ra sự phụ thuộc, đòi hỏi chuyên gia, chắp thêm lớp trung gian giữa người dùng và mục đích. Hệ thống y tế chuyên biệt hóa là thao túng, bởi nó biến người bệnh thành kẻ ngoài cuộc trước cơ thể của chính mình. Hệ thống giáo dục công nghiệp hóa là thao túng, bởi nó biến việc học thành độc quyền của trường lớp.
Rượu vang, trong trạng thái tự nhiên của nó, là một trong những thứ thân hữu nhất. Ai cũng có thể uống. Uống vang chẳng đòi hỏi ở con người ta điều gì. Người nông dân Hung trong hầm rượu ở Somló và thi sĩ Pháp ở Burgundy chỉ việc cùng làm một cử chỉ đơn giản: đưa ly lên miệng. Nhưng văn hóa rượu vang đương đại đã làm cái điều Hamvas không ngờ; nó đã biến rượu vang thành một công cụ thao túng. Giờ phải có sommelier, phải có từ vựng, phải có kiểu ly đúng chuẩn cho từng giống nho, phải có kiến thức về niên vụ, về xếp hạng Parker, về phong cách Old World và New World. Thiếu những thứ ấy, anh là kẻ ngoại đạo, một con bò uống sâm. Công cụ vốn thân hữu đã bị giới chuyên gia bắt giữ và biến thành rào cản.
Hệ quả rõ ràng. Người trẻ trong quán rượu cầm ly với chút ngại ngùng, liếc nhìn nhau xem ai có dám gọi tên giống nho trước, hay phải để nhân viên tư vấn nói ra trước cho đỡ mất mặt. Họ không uống thẳng cái đang có trong ly; họ uống qua lớp lang của nỗi sợ rằng mình sai. Và thái độ ấy đã đủ để giết chết mọi khả thể feloldás. Cơn co cứng, rossz magatartás trong ngôn ngữ của Hamvas, vẫn nguyên đó; có điều nay nó mang dáng dấp của những bộ cánh kiêu kỳ và hương nước hoa Chanel.
Vậy một không gian uống rượu hậu thương phẩm hóa sẽ ra sao? Quán rượu như nhà nguyện thay vì sân khấu. Người rót rượu như chủ nhà thay vì kẻ gác cổng tri thức. Thực khách như người cùng tham dự một nghi thức chung thay vì kẻ tiêu dùng tìm sự xác nhận. Cái chuẩn để đánh giá một quán rượu như thế nằm ở khả năng của nó cho phép một cuộc nói chuyện nào đó diễn ra mà đáng lẽ ở nơi khác không thể diễn ra; khả năng ấy quan trọng hơn danh mục vang nó nhập khẩu, hơn độ hiếm của các chai Burgundy, hơn mọi dấu hiệu sành điệu trên thực đơn. Khả năng ấy khiêm tốn hơn nhiều so với tiêu chuẩn công nghiệp về trải nghiệm khách hàng, nhưng nó là khả năng duy nhất đáng theo đuổi nếu ta còn nhớ vì sao rượu vang từng được xem là thiêng.
Nghe điều này trong tai người hiện đại, hiển nhiên, là ngô nghê. Cái ngô nghê ấy là thước đo mức độ chúng ta đã bị bần cùng đi đến đâu.
Nhưng Hamvas là người Hung, còn chúng ta là người Việt. Phải hỏi xem viễn kiến ấy có chút mảy may nào ăn nhập với truyền thống uống rượu cộng đồng của chúng ta, hay ta chỉ đang nhập thêm một hình thức khác của cùng một căn bệnh.
Văn hóa uống rượu của người Việt chưa bao giờ mang tính Dionysian. Đồng bằng sông Cửu Long không có maenad, không có cuồng tửu nghi, không có cái hoang dại nguyên sơ mà Hamvas ca ngợi qua các mùa nho Somló. Nhưng có một thứ khác.
Cái nhậu, như một định chế xã hội, trước hết là đàn ông (vâng, chủ yếu đàn ông, và điều ấy có hệ quả mà chúng ta sẽ quay lại sau), quây quần bên những chiếc bàn thấp, trên chiếu hoặc trên những cái ghế nhựa đỏ đã trở thành biểu tượng vô danh của đô thị Việt. Mồi thì có đậu phộng, mực khô, ít đồ nướng, gỏi gì cũng được. Rượu là rượu đế hay bia hơi, tùy vùng, tùy túi tiền, tùy buổi. Cuộc nói chuyện không cao đạo; những câu đùa thường thô kệch; những bài hát thường ủy mị. Nhưng trong cái không gian ấy, có điều gì đó đã xảy ra mà các dạng giao tiếp chính thức không bao giờ cho phép xảy ra. Quan hệ thứ bậc dần mờ đi; bí mật được thổ lộ; những mối dây không được ánh sáng ban ngày thừa nhận được bện lại trong ánh đèn vàng của quán vỉa hè. Đó có phải là thiêng không? Không theo nghĩa của Hamvas. Không có siêu hình học minh nhiên, không có thần học lên men. Nhưng cái nhậu là cộng đồng trong cái nghĩa mà đời sống đô thị Việt hiện đại càng lúc càng không còn đủ sức là cộng đồng. Nó là hiện diện, trong cái nghĩa mà đời sống được tối ưu hóa không bao giờ có thể là hiện diện.
Chiều kích ấy không được các thế hệ đi trước gọi tên thành triết lí. Người ta làm đi nhậu với người anh em cũng không nghĩ mình đang thực hành szertartástan; người thợ chạm ly bia với người bạn cùng xưởng cũng chẳng đọc Hafez. Nhưng các nền văn hóa biết uống chung với nhau, xưa nay, đều đã tình cờ khám phá ra một chân lí có cùng một hình thái: sự lỏng lẻo hóa của cái tôi dưới men rượu cũng là sự lỏng lẻo hóa của cái vỏ bọc ngăn con người khỏi nhau và khỏi một cái gì đó lớn hơn con người. Và trong cái lỏng lẻo ấy, một thứ khác có thể tràn vào. Gọi nó là tình nghĩa; gọi nó là khí huynh đệ; gọi nó là thánh linh nếu ai muốn đi xa hơn. Tên gọi ít quan trọng hơn sự có mặt của chính cái thứ ấy.
Có một chiều kích khác của truyền thống mà ít ai ở xứ ta chịu nhìn, vì chúng ta quá quen xem uống rượu là việc tập thể. Đó là sự cô độc. Lý Bạch viết Nguyệt hạ độc chước, ngồi uống một mình dưới trăng, cử bôi yêu minh nguyệt, đối ảnh thành tam nhân. Vầng trăng không biết uống, cái bóng chỉ đi theo mà thôi; tạm đi cùng trăng và bóng, vui vẻ phải kịp xuân. Cả bài thơ là một tuyên ngôn về khả năng giao cảm của kẻ uống rượu một mình với những hiện diện mà kẻ tỉnh táo không thể thấy. Đấy là một dạng hiệp thông khác hẳn sự cô đơn, cao đạo và kín đáo hơn. Hamvas đã nói về rượu Somló như rượu dành cho kẻ cô độc đã già, cho bậc hiền triết; ở đây, qua một nền văn hóa khác, ta lại gặp cùng một phát hiện. Kẻ biết uống một mình, trong cả hai truyền thống, là kẻ đã tìm được một loại đồng bạn mà đa số không có khả năng nhận ra.
Khi ta bước vào quán rượu vang ở Sài Gòn, cái ta kiếm có thể là một trong hai: cái nhậu đã được tinh lọc, cộng đồng mà không thô; hay cái Lý Bạch được đô thị hóa, cô độc mà không tuyệt vọng. Nhiều khả năng nhất, một cái gì đó giằng xé giữa hai. Dù là gì, cái được tìm kiếm có chung một cái tên mà Hartmut Rosa, nhà xã hội học Đức đương đại, đã đặt tên: Resonanz, cộng hưởng, cái khả năng để thế giới đáp lại ta. Nhưng đó là chuyện của phần sau; trước hết cần tiếp tục với câu chuyện đã mất.
Cái gì đã giết cái nhậu? Đầu tiên, là đô thị hóa: căn hộ mấy chục mét vuông thay cho sân, và không ai uống rượu với mồi trên ban công tầng mười bốn mà không bị hàng xóm phàn nàn về mùi hay về tiếng ồn. Tiếp đến là tính di động: đàn ông Việt không còn uống hàng tuần với cùng nhóm bạn thời thơ ấu, bởi người này đã sang Đài Loan, người kia đã vào Nam, người nọ đã thành giám đốc trên lầu mười lăm của một tòa nhà kính. Diễn ngôn về sức khỏe, du nhập từ phương Tây và được khuếch đại qua các chiến dịch nhà nước: uống rượu từ một hình thức xã giao đã trượt thành một hành vi cần cải cách, một vấn nạn y tế công cộng, một đề mục trong báo cáo WHO. Rồi tới chuyện ai cũng bận: nhịp sống hối hả không cho phép một chầu nhậu ba tiếng, bởi ba tiếng ấy lẽ ra phải dùng để trả lời email hoặc học khóa online về tài chính cá nhân. Và sau cùng, là âu lo địa vị: rượu vang ở tầm giá bình dân đã thay rượu đế làm dấu hiệu của lớp trung lưu thành thị, và cái nhậu bị đẩy xuống hàng mùa dĩ vãng của người lao động chân tay, một thứ đáng tránh đối với kẻ muốn trèo cao.
Người trẻ Việt vào quán rượu vang là người đang chạy trốn cùng lúc từ hai hướng. Từ cái nhậu vì nó mang mùi tỉnh lẻ, mùi đàn ông hung hăng quá độ, mùi của sớm thứ bảy lúc ba giờ sáng với nước mắt và tiếng xe gắn máy gầm lên. Và từ nền văn hóa năng suất vì nó không còn chừa bất cứ khoảng trống nào cho sự say sưa vô ích. Rượu vang trở thành một không gian thứ ba, không hoàn toàn Tây mà cũng không hoàn toàn truyền thống, không quá hối hả của cuộc hẹn một giờ mà cũng không quá chìm đắm đến mức sáng mai không đi làm nổi.
Có phải đó là không gian thứ ba thực, hay chỉ là một phiên bản thẩm mĩ hóa của cùng một sự lưu vong? Không ai dám trả lời dứt khoát; câu trả lời tùy vào từng ly, từng đêm, từng tâm hồn. Điều duy nhất có thể ghi nhận: người trẻ ấy đang tìm một thứ có thật. Chỉ có điều cái họ tìm ra có khi chỉ là một bức ảnh của thứ ấy, chụp với ánh sáng đẹp, trong khi thứ thật đứng đâu đó bên ngoài khung hình, lặng lẽ chờ người biết nhìn.
Hamvas sẽ không trách họ. Một người từng khuân đá ở nhà máy điện và viết về rượu trong đêm sẽ không cho rằng họ sai khi đi tìm. Nhưng họ sẽ chỉ sai nếu quên mất mình đang tìm gì, và bằng lòng với tấm ảnh thay cho chính cái nội dung tấm ảnh ấy mô phỏng.
Hamvas kết thúc cuốn sách bằng một chương nhan đề bằng tiếng Latinh, Vita Illuminativa, đời sống được chiếu sáng. Luận điểm của ông, là một đảo ngược: cơn say, nếu mà hiểu cho đúng, không phải phản đề của sự tỉnh táo, mà là hình thức cao nhất của sự tỉnh táo. Cái hiểu thông thường đã lộn ngược đầu. Kẻ hiện đại được gọi là tỉnh táo thực ra đang ngủ, mắc kẹt trong các trừu tượng, tự vệ trước hiện thực bằng những bức tường khái niệm. Kẻ biết uống, uống với chú ý, với nghi thức, với lòng biết ơn, là kẻ thực sự tỉnh thức.
Hartmut Rosa, trong khảo luận Resonanz đồ sộ, đã đặt tên bằng ngôn ngữ xã hội học đương đại cho cùng một trực giác. Ông lập luận thế giới hiện đại không chỉ tha hóa, mà còn bị câm. Chúng ta tương tác với nó liên tục, qua màn hình, qua giao dịch, qua các con số đo lường, nhưng nó không đáp lại ta. Chúng ta tích lũy kinh nghiệm mà không cảm nhận được gì; chúng ta tối ưu hóa đời sống mà không nói được đời sống ấy vì cái gì. Thế giới đã trở thành tài nguyên để khai thác, chứ không còn là hiện diện để gặp gỡ. Cộng hưởng, Resonanz, là điều đối nghịch với sự câm lặng ấy: kinh nghiệm về một thế giới đang nói với ta, đáp lại ta, rung lên cùng ta, và biến đổi cả hai phía trong cuộc gặp. Rosa đặt tên các trục cộng hưởng: thiên nhiên, nghệ thuật, tôn giáo, các mối quan hệ. Khi các trục ấy thông với nhau, người ta thấy mình đang sống; nhưng khi chúng ứ tắc, người ta rơi vào trầm cảm, kiệt sức, và cái bệnh đặc biệt hiện đại của việc có mọi thứ mà không cảm thấy gì.
Rượu vang, trong tình huống này, nếu uống đúng cách, gợi ý rằng chính nó cũng mở ra một trục cộng hưởng. Thế giới nói qua ly rượu. Thân thể đáp lại. Một cái gì được trao đổi mà không thể đo lường, không thể ghi lại, cũng thể đem ra mua bán. Chính vì thế kẻ tối ưu và kẻ chuyên gia không thực sự uống được: họ tiếp cận rượu như tài nguyên, như công cụ, như nội dung; và tài nguyên không bao giờ đáp lại. Chỉ hiện diện mới đáp lại hiện diện.
Có thể tin được điều này chăng? Có thể thực hành nổi điều này chăng, trong một thành phố mà mỗi mét vuông đang thu thuế, mỗi phút đang chịu báo cáo, mỗi ly rượu đang chịu chiếu sáng của một ống kính máy ảnh?
Uống như Hamvas đề nghị có nghĩa là gì? Là uống trong cộng đồng, hoặc nếu một mình thì trong sự hiệp thông với trăng và bóng, theo cách Lý Bạch đã chỉ. Là uống vì gặp gỡ chứ không vì hiệu quả. Là để rượu nói chứ không nói về rượu. Là cạn ly chứ không chụp ảnh nó. Là nhận chứ không đo. Là phung phí, vâng, phung phí một cách quang minh, hào hiệp, không dư lại một đồng xu nào cho cái lương tâm muốn hành nghề kế toán.
Quay lại quán rượu của người bạn tôi ở Sài Gòn. Những người trẻ vẫn còn ngồi đấy, ly cạn một nửa, họ nói về mọi thứ và cũng chẳng nói gì cả. Họ không đọc Hamvas, cũng không biết đến Hafez, càng chưa từng biết Lý Bạch đã viết gì, chưa nghe tên Bataille hay Illich hay Rosa. Họ đang tìm cộng hưởng trong một thế giới đã nín thinh, mà không biết cái họ tìm có tên gọi. Nhưng có điều gì đó trong họ biết đời sống được tối ưu là không đủ, biết sự tỉnh táo của kẻ hối hả là một dạng chết chậm, biết lối xưa của ông bà không thể đơn giản được khôi phục nhưng một cái gì khác phải được tìm ra.
Liệu rằng họ, và cả chúng ta nữa, có tìm ra được hay không sẽ tùy vào một điều duy nhất: liệu ta còn có khả năng nếm rượu hay không; và liệu còn dám phung phí cho một loại nước nho có cồn hay không.
Kẻ vô thần, như Hamvas nói, sợ Thượng Đế. Kẻ ngoan đạo thì giả vờ sợ. Kẻ thanh giáo sẽ trừng phạt hai kẻ trên. Nhưng kẻ biết uống, biết uống thực sự, không sợ, không giả vờ, không trừng phạt. Hắn phung phí. Hắn cộng hưởng. Hắn nhận lấy. Và trong cái nhận lấy ấy, hắn được lãnh nhận.

Comments
Nothing yet. Say the first thing.
Sign in to join the conversation.