RSS Amplifier

The Cochinchine Pensées · Jul 5, 2026

Đế chế Ăn mòn nền Cộng hòa

0
Sign in to vote or save

This page did not load. You can still read it on the original site — the toolbar below keeps your place in the directory.

Một nền cộng hòa hai trăm năm mươi tuổi.

Trưa ngày 23 tháng 12 năm 1783, trong phòng Thượng viện tòa nhà nghị viện Maryland ở Annapolis, một viên tướng vừa thắng cuộc chiến giành độc lập đứng dậy trả lại một tờ giấy. Tờ giấy là bản ủy nhiệm chức Tổng tư lệnh Quốc hội trao cho ông tám năm về trước. Người chủ tọa nhận lại nó tên Thomas Mifflin, cái tên mà lịch sử về sau chẳng còn buồn nhớ. Thủ tục thì gọn gàng và dứt khoát.

Nghi thức đã được soạn sẵn từ trước và in thành quy tắc, chi li đến từng cử động của cả hai bên. Các nghị viên ngồi và đội mũ suốt buổi. Viên tướng đứng, đầu để trần. Khi ngỏ lời, ông cúi đầu trước Quốc hội. Quốc hội đáp lễ bằng cách bỏ mũ ra, nhưng không cúi đầu đáp lễ. Cả buổi lễ xoay quanh một điều không câu chữ nào nói thành lời, mà nằm trọn trong việc ai ngả đầu và ai chỉ bỏ mũ: người cầm quân cúi trước quyền lực dân sự; quyền lực dân sự không cúi lại. Toàn bộ luận điểm của nền cộng hòa non trẻ được viết thẳng vào cử chỉ ấy.

Một đại biểu Maryland có mặt hôm ấy, James McHenry, khi tối về viết thư cho vị hôn thê của mình. Ông kể tay viên tướng run lên khi đọc tờ diễn văn. Có đoạn ông phải đỡ tờ giấy bằng cả hai tay. Đến chỗ ký thác đất nước cho Chúa, giọng ông lạc đi rồi chìm hẳn; và cả gian phòng, như lời McHenry viết, hầu như không ai cầm được nước mắt. Trong buổi lễ trao trả quyền lực, người khó giữ bình tĩnh nhất là người đang trao nó.

Hôm sau là đêm Giáng sinh. Ông lên ngựa về Mount Vernon, về với đồn điền của mình. Người ta chờ một ông vua; còn ông chọn về vườn.

Câu chuyện đã có thể khác. Chín tháng trước đó, tại doanh trại gần Newburgh, các sĩ quan bị Quốc hội nợ lương bàn chuyện dùng quân đội ép chính quyền dân sự phải thanh toán. Washington tới gặp họ, rồi xin họ thứ lỗi: ông đã bạc đầu phụng sự họ, giờ lại đang mù dần, vì giờ trên khuôn mặt của ông đeo lấy cặp kính ít ai từng thấy ông đeo. Những kẻ từng nhìn cái chết không chớp mắt bật khóc. Âm mưu dùng chính biến cứ thế dập tắt. Đạo quân ông chỉ huy thắng trận, vũ khí còn trong tay, có thể đã chọn một con đường ngược lại. Nhưng nó đã tự chọn khuất phục trước quyền lực dân sự.

Một thủ tục nhỏ đến thế mà làm cả một thế hệ rơi nước mắt, vì họ biết rõ vở kịch mình đang diễn. Cả nền lập quốc tự soi mình vào lịch sử cộng hòa La Mã. Tranh luận về bản hiến pháp sắp ra đời, họ ký các luận văn bằng tên La Mã: phe này lấy tên Publius, phe kia lấy tên Cato và Brutus, đều là tên những người từng chống kẻ muốn xưng vương. Viên tướng vừa đặt tờ ủy nhiệm xuống thì họ gọi là Cincinnatus, người nông dân được trao quyền chấp chính, thắng trận xong thì buông kiếm quay về luống cày. Tờ giấy ông đặt xuống trong vở kịch ấy, là một thanh kiếm. Nỗi ám ảnh dưới mọi cái tên đó, là nỗi sợ đế chế. Người ta kể rằng vua nước Anh, nghe tin Washington định trả quyền để về làm ruộng, đã nói rằng nếu Washington thật sự làm vậy, ông ta sẽ là người vĩ đại nhất thế giới.

Nước Mỹ năm nay tròn hai trăm năm mươi tuổi, và câu hỏi trùm lên mọi tranh luận là liệu nó có đủ sức giữ được mình trước một nước Nga ôm giấc mộng phục hận, một Trung Quốc đang lên, và những cuộc chiến không dứt ở Trung Đông. Câu hỏi ấy đo mọi thứ bằng sức mạnh. Những con người tại Annapolis năm ấy mang một câu hỏi khác hẳn. Họ vừa đả bại đế quốc mạnh nhất địa cầu và buông tay khỏi thanh kiếm của mình; thứ làm họ mất ngủ nằm ở gần hơn nhiều. Nỗi sợ của họ nằm ở chỗ khác. Và cái mà họ sợ, họ đã chỉ đích danh.


Kẻ thù ấy nằm trong chính tờ giấy nước Mỹ đang kỷ niệm. Bản Tuyên ngôn 1776 là một bản cáo trạng đọc cho vua nước Anh. Gần cuối có hai dòng cáo trạng thế này: nhà vua giữ trong thuộc địa, giữa thời bình, “những đạo quân thường trực không có sự ưng thuận của cơ quan lập pháp của chúng ta”, và đã “làm cho quân quyền đứng độc lập, và đứng cao hơn dân quyền.” Sinh nhật thứ hai trăm năm mươi của nền cộng hòa là sinh nhật của chính tờ cáo trạng liệt quân quyền trên dân quyền vào tội lập quốc.

Mười chín năm sau, sức nặng ấy mới được nói trọn. Năm 1795, Madison gọi đích danh kẻ cầm đầu mọi mối nguy: trong mọi kẻ thù của tự do công cộng, chiến tranh là kẻ đáng sợ nhất, bởi nó chứa sẵn mầm mống của mọi kẻ thù còn lại. Rồi ông lắp ra nguyên một băng chuyền. Chiến tranh đẻ ra quân đội; từ quân đội mà có nợ và thuế; và quân đội, nợ, thuế, cả ba, là “những công cụ đã biết để đưa số đông vào dưới ách thống trị của số ít” (the known instruments for bringing the many under the domination of the few). Chiến tranh cũng nới rộng quyền tùy nghi của hành pháp. Ông không hình dung ra một cú đánh úp bất ngờ; ông hình dung cái chết dần, và mỗi khớp của băng chuyền là một cơn đau sờ thấy được: đứa con đi lính, đồng thuế và món nợ mỗi năm một nặng. Cơn đau hiện hình ấy là hồi chuông báo động: dân phải thấy mình mất gì thì mới kháng cự. “Không một dân tộc nào”, ông kết luận, “giữ được tự do giữa một cuộc chiến triền miên”.

Người nói câu ấy là cha đẻ của bản Hiến pháp, không phải một kẻ bất mãn đứng bên lề.

Hamilton, người đứng cùng ông những ngày lập hiến, còn nhìn nhận sắc bén hơn về cơ chế ấy. Ở tờ Federalist số 8, ông thấy trước cái các lý thuyết gia về tự do tránh nhìn: kẻ tháo xích cho quyền lực sẽ là chính người dân, một cách tự nguyện. “Để được an toàn hơn”, ông viết “rốt cuộc họ sẵn lòng chịu rủi ro được ít tự do hơn”. An toàn hơn, nhưng kém tự do hơn: cái mặc cả ấy không ai áp đặt. Và những thể chế bị chiến tranh quấy nhiễu không ngừng nghỉ sẽ trượt dần về phía ngai vàng.

Cũng chính bàn tay ấy, ít lâu sau, viết tờ số 70 đòi “năng lượng trong hành pháp” làm nét chủ đạo của một chính quyền tốt. Hai lời như hai gọng của một cái kìm, cùng một bàn tay rèn. Nhưng năng lượng Hamilton muốn là năng lượng chạy trong khung luật, cỗ máy quay hết công suất mà vẫn trong lồng; cái ông sợ ở số 8 là năng lượng phá lồng chui ra.

Phe lập quốc đáp lại thế nào? Họ thôi trông đợi vào đức hạnh và dựng nên một cỗ máy. Quyền tuyên chiến bị lấy khỏi tay kẻ cầm quân, giao cho Quốc hội vốn khó mà đồng thuận. Ngân sách nuôi quân bị chặn: không khoản chi nào cho quân đội được phê chuẩn quá hai năm một lần, buộc cứ hai năm phải phê chuẩn lại, để quân thường trực không tự thành vĩnh viễn; Madison bảo vệ cái chốt ấy ở tờ số 41. Nhưng dưới mọi bánh răng có một giả định đỡ toàn bộ sức nặng cỗ máy, nằm ở tờ số 51: tham vọng phải được dựng để chặn tham vọng. Mỗi nhánh sẽ giữ phần quyền của mình vì tư lợi của con người ngồi trên chiếc ghế đã buộc chặt vào quyền hiến định của chính cái ghế đó. Cỗ máy không đòi hỏi những vị thiên thần với đức hạnh tuyệt đối; nó chỉ cần mỗi người tham đúng phần quyền của mình. Trên giả định đó, và chỉ trên nó, cả tòa nhà đứng vững.

Cỗ máy ấy ngầm thừa nhận một điều, rằng an toàn không phải tất cả những gì một dân tộc tự do được hưởng. Với những con người đủ sức tự trị (autonomous), cái đáng giá là chính quyền tự trị; một bộ máy giữ anh an toàn tuyệt đối nhưng lấy đi khỏi tay anh quyền tự định đoạt thì đã lấy mất một thứ, ngay khi anh còn yên ổn. Phe lập quốc hiểu cả điều đó lẫn sức cám dỗ ngược lại. Ta quen gọi họ ngây thơ. Họ không hề ngây thơ: họ đã thấy trước cảnh một dân tộc tự do tự tay đem tự do đổi lấy an toàn. Cái họ không làm được nằm ở chỗ khác. Khi phải hình dung một nền cộng hòa chết ra sao, họ chỉ có đúng một tấm gương cả thế hệ phải nằm lòng. Tấm gương đó là La Mã.


Trong tấm gương ấy, cái chết của một nền cộng hòa mang một dáng hình quen thuộc. La Mã không bị bóp chết từ bên ngoài. Vào thời nó suy tàn, không thế lực ngoại bang nào đủ sức áp sát những bức tường thành ấy; kẻ giết nó lớn lên từ bên trong. Cái chết đến từ chính những binh đoàn từng đi chinh phạt nhân danh nó, vào lúc lòng trung của người lính rời khỏi nền cộng hòa mà dồn cả vào viên tướng cầm quân. Người lính thôi phụng sự một định chế và bắt đầu phụng sự một con người. Theo lối kể truyền lại qua bao đời, đó là hệ quả của một đạo quân mỗi lúc một chuyên nghiệp, sống bằng nghề binh và trông vào chủ tướng để có ruộng đất lúc giải ngũ. Năm 88 trước Công nguyên, Sulla là viên tướng La Mã đầu tiên quay quân đánh vào chính thành đô của mình; cái cửa từng được coi là bất khả xâm phạm, một khi đã bị bật mở thì không đóng lại được nữa. Gần bốn mươi năm sau, Caesar đưa quân đoàn vượt sông Rubicon, và nền cộng hòa không còn đường lùi. Trong cả hai lần, cái chết của tự do đều có một khoảnh khắc, một địa điểm, một khuôn mặt: người đời biết chính xác nó xảy ra khi nào và do tay ai. Cộng hòa La Mã không đổ vì Carthage; nó đổ vì đạo quân đã đánh thắng Carthage.

Cỗ máy được xây dựng ở Philadelphia được rèn để chặn đúng con người ấy: một Caesar mới. Một kẻ tiếm đoạt đến từ bên ngoài các cơ quan dân cử, có quân đội trong tay, bước qua một lằn ranh mà ai cũng trông thấy. Mọi chốt hãm đều canh cái cửa đó. Quyền tuyên chiến bị giằng khỏi tay người cầm quân và giao cho một Quốc hội khó đồng thuận, để không một cá nhân nào tự mình phát động nổi một cuộc chiến. Họ đang canh giữ một dòng sông để không xảy ra một Rubicon trên chính đất Mỹ.

Cỗ máy ấy chặn được một Caesar. Trớ trêu thay nó lại không chặn được một thứ cũng đến từ bên trong, qua một cánh cửa không ai nghĩ phải canh chừng. Sự trao quyền tự nguyện thì phe lập quốc đã thấy trước; tờ số 8 đã đưa nó ra tường minh rồi. Chỗ họ tính sai nằm ở tờ số 51. Cả bộ máy tựa lên một giả định, rằng tư lợi của người giữ ghế gắn chặt vào quyền hiến định của cái ghế. Người nghị sĩ sẽ gìn giữ quyền của Quốc hội, bởi lẽ bảo vệ quyền ấy là giữ lấy tầm vóc và chỗ đứng của chính mình. Hai thế kỷ trôi qua, và hai thứ đó dần tách rời nhau. Giữ lấy quyền tuyên chiến bây giờ nghĩa là phải bỏ lá phiếu ghi tên vào hồ sơ, phải gánh chịu trách nhiệm khi tình hình chiến trường xấu đi, phải trả giá bằng chiếc ghế. Nhường quyền ấy cho nhánh hành pháp thì được cả hai đằng: được yên thân về chính trị, vì không để lại dấu tay của mình trên quyết định; và được cả quyền phàn nàn, được đứng ngoài lên án chính cuộc chiến của mình. Vậy với người giữ ghế hiện tại, buông tay là nước đi hợp lý. Cỗ máy của tờ số 51 trông cậy lòng tư lợi để bảo vệ quyền; giờ chính lòng tư lợi đem quyền ấy dâng đi. Thế là tham vọng thôi chặn tham vọng. Tham vọng học được một nước cờ mới: thoái thác.

Vì thế cái chết của nền cộng hòa Mỹ không cần một Caesar. La Mã cần một dòng sông để vượt, một lằn ranh để cả thiên hạ cùng thấy một người bước qua. Ở Mỹ, không ai vượt Rubicon. Người ta ký một nghị quyết. Và khi mực đã khô, mọi hình thức của nền cộng hòa vẫn còn nguyên vẹn: bầu cử vẫn đúng kỳ, tòa án thì xử án, báo chí in điều nó muốn, Quốc hội họp thường nhật. Quyền lực đế chế bây giờ dồn lại một cách hợp pháp, và vô hình. Không còn chỗ nào cho một công dân chỉ tay vào mà nói: đây, ngay chỗ này, là nơi lằn ranh vừa bị bước qua. Phe lập quốc đứng canh một dòng sông, và cái chết lại được chuyển phát qua đường bưu điện.

Tấm gương La Mã, hóa ra, đã quá đỗi kịch tính. Nó tặng người công dân một lằn ranh sáng rõ để mà canh giữ: một con sông có tên, một đạo quân trông thấy được. Mối nguy của nước Mỹ không có lằn ranh nào như vậy. Nền cộng hòa hiện đại chết mà chẳng cần đến nghi thức lịch sự của một cuộc đảo chính.

Chữ ký đầu tiên của cách chết ấy nằm trên một tấm bản đồ cụ thể. Đó là vào năm 1964.


Ngày 2 tháng 8, ngoài khơi vịnh Bắc Bộ, ba tàu phóng lôi Bắc Việt lao vào khu trục hạm USS Maddox. Vụ đụng độ đó có thật, nhưng cú thứ hai thì không. Đêm 4 tháng 8, hai chiến hạm Mỹ báo về một trận phục kích. Năm 2005, hồ sơ tín hiệu được giải mật. Sử gia của chính Cơ quan An ninh Quốc gia, Robert Hanyok, kết luận: đêm ấy không có gì hung hiểm xảy ra. Giới phân tích tự thuyết phục mình rằng có phục kích, rồi gạt khoảng chín mươi phần trăm số tín hiệu ngược chiều khỏi báo cáo gửi Tổng thống. McNamara về sau thừa nhận không có cuộc tấn công nào; năm 1995 ông sang Hà Nội hỏi tướng Giáp, và nhận lại câu trả lời chắc nịch: tuyệt đối không có gì đã xảy ra.

Trên một cuộc tấn công không xảy ra, ngày 7 tháng 8, Quốc hội dựng lên Nghị quyết Vịnh Bắc Bộ. Văn bản trao cho Tổng thống quyền “áp dụng mọi biện pháp cần thiết để đẩy lùi mọi cuộc tấn công vũ trang” và “ngăn chặn mọi hành động xâm lược tiếp theo”. Không có giới hạn thời gian, không mục tiêu định danh, không cần một lời tuyên chiến nốt. Đó là một tấm séc để trắng cho một cuộc chiến sẽ giết hàng triệu người mà chưa ai tuyên bố. Hạ viện đồng lòng với 416 thuận, và không một phiếu chống. Tám mới tám trên chín mươi Thượng nghĩ sĩ tán thành trong cuộc bỏ phiếu Thượng viện. Hai người chống là Wayne Morse của Oregon và Ernest Gruening của Alaska. Morse gọi đó là một lời tuyên chiến định sẵn ngày tháng, và cảnh báo rằng các thế hệ mai sau sẽ nhìn lại sai lầm lịch sử này với nỗi thất vọng và kinh hãi. Chỉ có hai phiếu chống.

Chín năm sau, một sử gia đặt tên cho cái vừa xảy ra. Arthur Schlesinger gọi đó là nền tổng thống đế chế, và nói nó nhận cú hích quyết định “từ sự chiếm đoạt bởi nhánh hành pháp cái quyết định hệ trọng nhất của cả quốc gia: quyết định tham chiến”. Mạch kể của ông trỏ vào thực trạng quyền hành pháp lên ngôi ở Triều Tiên, rồi hoành hành đến cực điểm ở Việt Nam. Mốc ấy ông định đúng. Động từ thì ông chọn sai. Chiếm đoạt là chữ của một vụ cướp, của kẻ giật cái không ai trao. Nhưng hồ sơ phiếu kể chuyện khác hẳn. 416 trên 0 là hình ảnh của hàng trăm bàn tay cùng mở ra mà không có một cổ tay nào bị bẻ quặt. Đó là một món quà, không phải một vụ cướp, được trao gần như tuyệt đối, trong sự tán đồng. Chữ chiếm đoạt buộc tội nhánh hành pháp; con số 416 trên 0 buộc tội nhánh lập pháp. Cái nhánh mà cỗ máy Philadelphia trông cậy sẽ ghì chặt quyền của ghế mình, chính nó, lại dâng quyền ấy đi bằng cả hai tay.

Đó là khoảnh khắc quyền định đoạt chiến tranh bắt đầu trôi khỏi mọi cái neo. Thứ Hiến pháp giao cho cơ quan dân cử, thứ đáng lẽ phải được cãi vã công khai trước khi đổ máu, giờ trượt vào tay một người. Không dòng sông nào bị vượt, không đạo quân nào tiến vào thủ đô. Chỉ một chữ ký, và cỗ máy bắt đầu chạy. Vào chính cỗ máy ấy, Madison từng lắp vào một cái chuông: hễ quyền lực dồn cả về một phía, cơn đau của số đông, cái đau do quân dịch, nợ nần và sưu thuế, sẽ rung chuông đánh thức họ. Nhưng món quà cũng đã trao, cỗ máy cũng đã chạy. Cái chuông của Madison, thứ lẽ ra phải reo lên ngay khoảnh khắc ấy, thì lặng thinh.


Năm 1973 gói lại ba sự kiện, cả ba sinh ra từ chiến tranh Việt Nam. Ngày 27 tháng 1, Hiệp định Paris được ký. Cùng ngày ấy, Bộ trưởng Quốc phòng Melvin Laird tuyên bố chấm dứt chế độ quân dịch, sớm hơn kế hoạch năm tháng. Rồi tháng 11, Quốc hội thông qua War Powers Resolution (Nghị quyết Quyền Chiến tranh), vượt qua cả phủ quyết của Nixon để đòi lại quyền quyết định chiến tranh. Xếp cạnh nhau, ba dữ kiện vạch ra một con đường: cơ quan lập pháp đòi lại hình thức của quyền quyết định chiến tranh đúng vào năm người công dân được rút khỏi thực chất của nó, khi không còn bị gọi lính.

Chuông ấy chỉ reo khi cơn đau của số đông trở nên hiển hiện. Đế chế hiện đại tháo rời từng bánh răng của băng chuyền vốn dẫn truyền cơn đau ấy: quân đội tình nguyện xóa bỏ chế độ quân dịch, nên không còn nhà nào bị gọi con; chiến phí được vay chứ không thu thuế ngay, nên món nợ trôi sang một thế hệ chưa kịp bỏ phiếu; phí tổn thật bị chôn trong hàng núi khoản chi ngân sách không ai đọc. Khi cơn đau thôi hiện hình, cái chuông mất luôn thứ làm nó rung. Chuông của Madison không bao giờ reo nữa.

Một người Mỹ đã chẩn đoán đúng cỗ máy này từ bên trong chính quốc. Andrew Bacevich, đại tá lục quân về hưu, người mất con trai ở Iraq năm 2007, viết rằng quân đội tình nguyện đã gỡ nước Mỹ khỏi cái giá phải trả cho những cuộc chiến của chính nó.

Nhưng cơn đau chỉ được tái định tuyến chứ không biến mất. Cái giá Madison trông cậy để đánh thức người Mỹ không mất đi; nó đổ xuống một thân thể khác. Nó đổ xuống Việt Nam. Bacevich nhìn cỗ máy từ Detroit chứ không từ Kabul; ông thấy tiếng chuông không vang lên nhưng không thấy cơn đau đã đi đâu. Chuông không reo ở Mỹ vì cơn đau đã được tái định tuyến sang thân thể Việt Nam. Đó là điều Bacevich, vốn đứng bên trong lòng nước Mỹ, thiếu về cấu trúc.

Cái hình thức vừa đòi lại được cứ thế mòn dần. War Powers Resolution thành một lá thư chết. Nó được viện dẫn tới trọn vẹn đúng một lần, vụ Mayaguez 1975. Phán quyết INS v. Chadha 1983 giết cơ chế phủ quyết lập pháp trong ruột nó. Sau này đến AUMF 2001, giấy phép vũ lực sau ngày 11 tháng 9, không có điều khoản hết hạn, được viện dẫn cho 41 chiến dịch tại 19 quốc gia. Quyền quyết định chiến tranh giờ đã bị đi vòng qua.

Mọi chuyện tiếp theo chỉ còn là thủ tục xác nhận. Ngày 3 tháng 1 năm 2026, quân đội Mỹ bắt Tổng thống Venezuela Nicolás Maduro đưa về New York; Quốc hội không được báo trước. Khi Hạ viện bỏ phiếu một nghị quyết War Powers để đòi lại quyền, nó bị đóng băng ở thế hòa 215 đều 215; ban lãnh đạo giữ phiếu mở chừng hai mươi phút, chờ một dân biểu kịp bay về. Năm 1964, cơ quan lập pháp còn bỏ phiếu trao quyền đi với sự áp đảo, 88 trên 2. Năm 2026, chính cơ quan ấy không gom nổi đa số để đòi quyền về, 215 đều 215. Từ hai người bất đồng, đến một thế hòa chết.

Vẫn còn một cái phanh chưa bị vô hiệu hoàn toàn: tháng 2 năm 2026, Tối cao Pháp viện bác sắc thuế IEEPA của Trump với tỷ lệ 6 trên 3, một chốt chặn hiến định hiếm hoi vẫn còn hiệu lực.

Chữ đế quốc Mỹ đã bị chiếm dụng tám mươi năm ở xứ này. Đảng đúng ở cái danh từ và sai ở mọi thứ danh từ ấy chỉ vào. Họ nhắm mũi dùi vào chủ nghĩa tư bản, trong khi vết thương nằm ở bản hiến pháp; họ ăn mừng sự sỉ nhục của nền cộng hòa Mỹ ngay khi đang dựng nên nhà nước không phanh của chính mình. Tôi dùng chữ ấy theo đúng nghĩa những người ở Annapolis hiểu. Và dùng đúng nghĩa ấy thì buộc phải đặt Việt Nam vào vị trí thứ hai: kẻ đứng dưới cỗ máy.


Kẻ đứng dưới cỗ máy có một văn bản của riêng mình, có trước Annapolis hơn hai nghìn năm. Nó nằm ở quyển năm của Thucydides, đoạn các sứ giả Athens điều đình với trưởng lão Melos trước khi bóp nát hòn đảo. Câu nổi tiếng nhất của đoạn ấy đã bị trích đến mòn; cái đáng nhìn lại là một động từ mà gần như mọi bản dịch làm nhòe đi.

Trong nguyên văn Hy Lạp, việc mà kẻ yếu làm được Thucydides gọi bằng ξυγχωροῦσιν1. Gốc của nó là χωρέω: dời chỗ, nhường chỗ, lùi ra để chừa một khoảng trống mà đứng. Bản dịch quen thuộc biến nó thành sự cam chịu, như thể kẻ yếu chỉ nằm im chờ hứng trọn điều phải tới. Nghĩa gốc mang một sắc thái động hơn và tỉnh hơn: kẻ yếu khuất mình, nhường bước, lùi lại để giữ chỗ đứng. Sắc thái ấy đổi cả bài toán.

Kẻ yếu tính toán mà nhường.

Melos đã không nhường. Sử gia chép phần kết bằng giọng của thư lại: người Athens giết hết đàn ông trưởng thành, bán đàn bà trẻ con làm nô lệ, rồi đưa dân mình ra chiếm đảo. Đó là cái giá của việc từ chối khuất phục. Việt Nam chọn đường ngược lại: nó nhường, và đặt cho cái nhún nhường đó một cái tên.

Ngoại giao cây tre là cái ξυγχωροῦσιν được nâng lên hàng học thuyết quốc gia: thân mềm mà gốc chắc, ngả theo mọi chiều gió mà không gãy. Ngày 10 tháng 9 năm 2023, Biden tới Hà Nội, và Washington nhảy một lúc hai bậc quan hệ, bỏ qua nấc giữa, lên thẳng Đối tác Chiến lược Toàn diện, đúng cái hạng Hà Nội lâu nay vẫn chỉ dành cho Bắc Kinh. Đến cuối năm 2025, Việt Nam giữ cùng lúc mười bốn quan hệ ở hạng cao nhất ấy, trong đó có trọn cả năm quốc gia giữ ghế thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc: một nước nhỏ ngồi ở bàn danh dự với cả năm thế lực có thừa sức xóa tên nó khỏi bản đồ. Tháng 2 năm 2025, nó vay Trung Quốc 8,3 tỷ đô la làm tuyến đường sắt nối lên biên giới phía bắc; tháng 10 cùng năm, nó nằm trong nhóm nước đầu tiên ngồi vào bàn đàm phán khung thuế quan với chính quyền Trump. Vay tiền làm đường ray của đế chế này trong lúc thu xếp thuế má với đế chế kia, gọn trong một xuân thu. Nó nhường mọi phía một lúc, và trong ngôn ngữ chính thức, tư thế ấy được xưng tụng là một học thuyết.

Có một chi tiết khác trong Thucydides, nói nhiều hơn về phận nước nhỏ. Mười một năm trước Melos, năm 427 trước Công nguyên, Mytilene trên đảo Lesbos nổi loạn rồi đầu hàng. Hội đồng Athens trong cơn thịnh nộ ra lệnh giết sạch đàn ông trưởng thành, bắt đàn bà trẻ con làm nô lệ, và phái một chiến thuyền mang bản án đi ngay. Qua một đêm cơn giận nguội dần, họ họp lại và đảo ngược chính án tử của mình.

Chiếc trireme2 thứ hai đuổi theo chiếc thứ nhất đã chạy trước gần một ngày một đêm. Thủy thủ ăn bánh lúa mạch nhào dầu và rượu ngay trên tay chèo, thay phiên nhau chợp mắt để mái chèo không lúc nào ngơi. Chiếc thứ nhất đi chậm trên một sứ mệnh ghê tởm; chiếc thứ hai cập bến đúng lúc viên chỉ huy vừa đọc dứt sắc lệnh và chặn cuộc tàn sát trong đường tơ kẽ tóc. Một nền cộng hòa còn sống là nền cộng hòa còn đóng nổi chiếc trireme thứ hai, còn rút lại được một quyết định giết chóc của chính mình. Ở Melos, mười một năm sau, không còn phiên họp nào nữa.

Nước Mỹ năm 1964 còn hai người đứng dậy nói không; đến năm 2026, chiếc trireme thứ hai của nó teo còn một lá phiếu phá thế cân bằng được giữ mở hai mươi phút, và con thuyền ấy không bao giờ rời cảng.

Việt Nam từng có một nền cộng hòa của riêng mình. Đệ nhất Cộng hòa của Ngô Đình Diệm, với bản hiến pháp năm 1956, sống bằng sự bảo trợ của Washington, rồi chết năm 1963 trong một cuộc đảo chính mà Washington đã bật đèn xanh. Một nền cộng hòa được đế chế triệu tới rồi khai tử tùy tiện. Cái lợi mà con dao đế chế ban cho nước nhỏ là một dòng chảy có điều kiện: đã mở được thì cũng đóng được.

Robert Kagan chấp nhận đúng cái tiền đề mà cả bài này dựng trên đó. “Trật tự quốc tế không phải một sự tiến hóa; nó là một sự áp đặt,” ông viết. “Nó chỉ tồn tại chừng nào những kẻ đã áp đặt nó còn giữ được năng lực bảo vệ nó”3. Rồi từ chính tiền đề ấy, ông rút ra một đơn thuốc ngược lại đến tận cùng.

Và với nước nhỏ, đơn thuốc ấy quyến rũ đến mức chí tử. Bởi chính cái khoảng đu dây của Việt Nam, chính cái quyền nhường mọi phía một lúc mà không phía nào nuốt trọn, chỉ có được trong một khu vực đã phát quang sẵn. Có một con dao đã phát quang rừng rậm ở Đông Á và giữ nó quang suốt bảy mươi năm: hạm đội Mỹ tuần trên Biển Đông, ngăn không cường quốc nào rảnh tay nuốt láng giềng. Cây tre uốn được là nhờ có khoảng trời quang. Rút con dao ấy đi, rừng rậm mọc lại, luật của kẻ mạnh quay lại, và nước nhỏ nằm sát kẻ khổng lồ đang đói sẽ bị nuốt trước tiên. Với Việt Nam, nói cho thật thẳng, đơn thuốc của Kagan là một đơn thuốc cứu mạng.

Vì thế mà một câu hỏi trí mạng được đưa ra. Nếu nước nhỏ cần con dao ấy mới sống được, thì phê phán bàn tay cầm dao có phải chỉ là xa xỉ đạo đức của kẻ đang được nó che chở?


Cứ cho Kagan đúng. Con dao có thật: nó đã phát quang rừng rậm và giữ khu rừng quang suốt bảy mươi năm ở một nơi xa; với Việt Nam, đơn thuốc ấy thật sự có thể cứu mạng.

Kagan viết rằng trật tự ấy “chỉ tồn tại chừng nào những kẻ đã áp đặt nó còn giữ được năng lực bảo vệ nó”. Ba chữ gánh cả câu: retain the capacity. Chính câu ấy là lưỡi thép ông vừa trao vào tay bài viết này. Cái năng lực ấy nằm ở đâu?

Năng lực ấy không nằm trong kho đạn dược, cũng không trong số hàng không mẫu hạm neo ngoài Thái Bình Dương. Một đế chế có thể sở hữu mọi vũ khí trên đời mà vẫn mất đi năng lực quyết định sẽ dùng chúng vào việc gì và ai chịu trách nhiệm khi đã dùng. Năng lực bảo vệ một trật tự, xét đến cùng, nằm trong bộ máy thẩm nghị: khả năng của một dân tộc tự do ngồi lại, cân nhắc, quyết định, và nhìn nhận cuộc chiến của mình như của chính mình. Mà bộ máy ấy đúng là thứ đế chế đã tiêu hóa mất tự bao giờ. Một Quốc hội không gom nổi đa số để bàn về cuộc chiến của chính nó, một Quốc hội 215 đều 215, chính là cái năng lực Kagan cần đang mục ruỗng, mục đúng theo nghĩa ông cần nó còn nguyên.

Vậy nên con dao không chỉ tốn kém cho nền cộng hòa. Nó ăn đúng cái điều kiện tồn tại mà Kagan đặt ra cho trật tự của ông. Lưỡi thép mài mòn ngay chính cái cán đang cầm nó.

Gọng kìm đầu tiên khép lại ở đó, và còn cái thứ hai. Quyền lực mà siêu cường rót xuống cho các nước chư hầu bản chất chỉ là một dòng chảy: nó luôn đi kèm điều kiện, và kẻ nắm van có thể khóa lại bất cứ lúc nào họ đổi ý. Việt Nam Cộng Hòa đã phải dùng máu để trả giá cho bài học khi dòng chảy ấy bị cắt đứt. Nhưng tổn thất hiến định giáng xuống chính quốc là một khối tích tụ. Nó tích lũy, và bánh cóc chỉ quay một chiều. Năm 1971 Quốc hội bãi bỏ Nghị quyết Vịnh Bắc Bộ; không một quyền nào trở về. Năm 1973 họ dựng cả một đạo luật để đòi lại quyền chiến tranh; nó thành thư chết khi mực chưa kịp khô. Năm 2001 tấm séc trắng ký vội vẫn đang chạy. Năm 2026, hòa. Chưa một lần đòi lại nào từng thành công.

Luận đề này có thể bị bác bỏ. Ai chỉ ra được một lần nào cơ quan lập pháp Hoa Kỳ đòi lại thành công quyền chiến tranh nó đã trao đi, người ấy bác bỏ được toàn bộ luận đề của bài này. Hai thế kỷ rưỡi tuổi của nước Mỹ vẫn đang chờ một phản chứng.

Bacevich, cựu binh của chính cuộc chiến ấy, đã gọi đúng tên căn bệnh: nước Mỹ theo đuổi “ưu thế quân sự toàn cầu vĩnh viễn, mà gần như không có một cuộc tranh luận quốc gia nào nói về nó”, barely a whisper of national debate. Ông đứng bên trong lòng nước Mỹ, và từ bên trong khó thấy nơi tiếng thì thầm chào đời. Nó khai sinh tại chính vịnh Bắc Bộ, vào một ngày tháng Tám năm 1964.

Nước Mỹ không cần thua Trung Quốc để đánh mất chính mình. Nó đánh mất mình không phải nếu nó thua, mà bằng chính cái phương tiện nó dựng lên để khỏi thua.

Bản án luôn nói về chuyện đã rồi, còn cái chúng ta để ngỏ là một thứ khó nhằn hơn nhiều. Nếu tư thế đế chế đúng là cái giá của an toàn trong một thế giới có Trung Quốc đang lên, thì giữ lấy nền cộng hòa có lẽ không còn là một lựa chọn khả dĩ. Nó có thể đã thành thứ xa xỉ mà chỉ cường quốc đã an toàn tuyệt đối mới đủ sức theo đuổi; nước nhỏ không kham nổi món ấy. Và đến một ngưỡng nào đó của lịch sử, ngay cả nước lớn cũng sẽ không. Đó là câu hỏi mà Hamilton bỏ lại giữa hai gọng kìm ông tự tay dựng nên, và hơn hai thế kỷ qua vẫn chờ người trả lời.

Hai trăm mười lăm phiếu thuận, đều hai trăm mười lăm chống. Người ta giữ lá phiếu cuối cùng mở thêm hai mươi phút, chờ một dân biểu bay về cho kịp phá vỡ thế hòa. Ông ta về kịp. Một nền cộng hòa không gom nổi đa số để đòi lại cuộc chiến của chính mình.

La Mã còn cần một dòng sông để vượt. Ở Mỹ không cần có dòng sông nào.

Bởi lẽ chẳng ai cần vượt Rubicon.

Thanks for reading The Cochinchine Pensées! Subscribe for free to receive new posts and support my work.

1

Là một từ ở Thucydides, quyển V (Đối thoại Melos), dạng cổ của συγχωρέω. Gốc là χωρέω, nghĩa dời chỗ, chuyển động, nhường chỗ. Sắc thái của nó nghiêng hẳn về nhường bước, lùi lại, nhượng bộ, thuận theo mà lui: một hành vi có chủ ý. Bản dịch kinh điển của Richard Crawley (1874) chuyển thành suffer what they must (kẻ yếu phải hứng chịu), do đó làm chìm mất sự chủ động ấy.

2

Chiến thuyền chèo ba tầng mái chèo của Hy Lạp cổ, cũng là chiến hạm chủ lực của hải quân Athens.

3

Nguyên văn tiếng Anh của câu dẫn, trong The World America Made (2012): “International order is not an evolution; it is an imposition… It will last only as long as those who imposed it retain the capacity to defend it”. Hình ảnh khu rừng rậm bị phát quang rồi mọc trở lại lấy theo luận đề và nhan đề cuốn The Jungle Grows Back: America and Our Imperiled World (2018).

Read on archyatt.substack.com

Comments

Nothing yet. Say the first thing.

    Sign in to join the conversation.