RSS Amplifier

The Cochinchine Pensées · Apr 21, 2026

Cái cớ của Thầy bói

0
Sign in to vote or save

M. Q. Doan · The Cochinchine Pensées

Ảnh quảng bá chương trình thực tế sinh tồn Battle of Fates (2026). Bản quyền: The Walt Disney Company/ Phân phối: Disney+.

Hồi tháng Hai năm nay, Disney+ cho ra mắt một chương trình mang tên Trận Chiến Định Mệnh, lấy bối cảnh và toàn bộ dàn sản xuất người Hàn. Bốn mươi chín thầy bói chuyên nghiệp, gồm người trải bài tarot, pháp sư, thầy tướng số, những người hành nghề bói toán cổ truyền, được tập hợp trong một trường quay, đấu loại trực tiếp, và bị chấm điểm dựa trên mức độ chính xác của những lời dự ngôn về cuộc đời thực của con người bằng xương bằng thịt. Họ cạnh tranh vì lòng kiêu hãnh, vì lượng khán giả, vì danh hiệu Người Đọc Vận Mệnh tối thượng. Chương trình được dàn dựng với sự mượt mà tự tin của một cuộc thi nấu ăn, nơi thí sinh bị xếp hạng, những liên minh, hay tình bạn được hình thành, và mạng xã hội bùng nổ với những bàn tán xem ai đọc bài bằng ánh mắt thấu thị nhất. Sẽ không có gì đáng trách nếu ta thoáng sững sờ trước cảnh tượng ấy: một nền văn minh biến việc đọc vận mệnh thành môn thể thao đối kháng phát sóng cho hàng triệu khán giả, nền văn minh ấy chưa hề vượt thoát khỏi mê tín. Nó chỉ đang chuyên nghiệp hóa mê tín mà thôi.

Chương trình là của Hàn Quốc, nhưng thứ khao khát mà nó nuôi dưỡng thì không có biên giới. Khắp Đông và Đông Nam Á, bói toán đang trải qua một quá trình ít giống sự phục hưng mà giống cuộc bành trướng thị trường hơn. Tại Việt Nam, những con số đã lớn đến mức không thể gạt sang một bên như thú tò mò nhất thời hay nỗi hoài niệm. Các nền tảng mạng ghi nhận hơn hai triệu lượt tìm kiếm cho thuật xem chỉ tay, hơn một triệu lượt cho tarot. Dịch vụ được định giá cho tiêu dùng đại chúng: mười đến năm mươi ngàn đồng một câu hỏi, xấp xỉ giá một ly cà phê, để một kẻ xa lạ phán cho bạn biết liệu mối quan hệ của bạn có sống sót qua năm nay hay không. TikTok và Facebook tràn ngập hội nhóm tarot, những buổi phát trực tiếp gieo bài, những tài khoản chiêm tinh tích lũy hàng trăm ngàn lượt theo dõi. Một nhóm sử gia trẻ gần đây thậm chí đã thiết kế một bộ bài tarot dựa trên Truyện Kiều, kiệt tác của Nguyễn Du về định mệnh và khổ nạn, ánh xạ 78 lá bài vào 78 cảnh đời trong thi phẩm. Sự trớ trêu, nếu ai tinh ý, thật tuyệt mỹ: hơn ba ngàn câu thơ trầm tư dằng dặc về câu hỏi con người làm chủ cuộc đời mình hay chỉ là món đồ chơi của tạo hóa. Bộ bài tarot kia biến cuộc trầm tư ấy thành một món hàng.

Đây không phải chuyện của những kẻ nhẹ dạ hay những tầng lớp bên lề. Một cuộc điều tra năm 2025 của UCA News phát hiện thanh niên Công giáo Việt Nam, thành viên của một cộng đồng bảy triệu người mà đức tin nghiêm cấm tuyệt đối mọi hình thức bói toán, vẫn đang tìm đến xem chỉ tay và tarot với sự bình thản đến mức thường nhật. Một nữ sinh viên xã hội học ở Sài Gòn, mười chín tuổi, mô tả chuyện này là “vui và đôi khi chính xác đến bất ngờ”. Một bà mẹ ở giáo xứ Tân Phước kể con gái tuổi mới lớn giờ nhất quyết từ chối gội đầu trước kỳ thi vì lá số cấm kỵ, hầu như không học hành, bỏ lễ thánh, suốt ngày chìm trong các hội nhóm bói toán trên mạng. Lời tự bào chữa của đứa con gái: “Mẹ đang áp đặt đức tin của mẹ lên con, và con có quyền được lựa chọn”. Ngôn ngữ của quyền và sự lựa chọn, những thứ mà chủ nghĩa tự do đã để lại cho thế giới hiện đại, đang bị vũ khí hóa để phục vụ cho sự đầu hàng năng lực lựa chọn.

Thái độ của nhà nước Việt Nam trước tất cả những điều này, như một đặc trưng quen thuộc, đầy tính bất nhất. Một quyết định cấp thủ tướng chính thức công nhận bói toán là một nghề nghiệp, hoàn bị với hệ thống phân loại thực hành: lập lá số tử vi, xem chỉ tay, tarot, đọc lá trà. Ấy vậy mà một phụ nữ xem bói bằng cách bổ cau gần đây bị phạt hành chính vì tội truyền bá “mê tín dị đoan”. Một chế độ tôn vinh Marx như vị tiên tri lập quốc và lấy duy vật biện chứng làm triết học nền tảng, dường như không thấy có gì chướng tai trong việc cấp phép cho chính những thực hành siêu hình mà chủ nghĩa duy vật lẽ ra phải quét sạch từ lâu. Nhưng mâu thuẫn ấy chỉ là bề mặt. Chủ nghĩa tất định lịch sử của Marx-Lenin và chủ nghĩa tất định bói toán dân gian không phải kẻ thù của nhau mà chúng là anh em họ hàng. Cả hai cùng hứa hẹn kẻ nắm đúng phương pháp có thể giải mã quỹ đạo của sự kiện, dù phương pháp ấy là phân tích biện chứng hay đọc thiên bàn. Cả hai đều giải thoát cá nhân khỏi gánh nặng khủng khiếp của việc phải tự mình lựa chọn mà không có kịch bản viết sẵn.

Chính gánh nặng ấy đã chiếm giữ phần lớn sự nghiệp trí tuệ của Isaiah Berlin. Cuốn Liberty của ông, xuất bản năm 2002, được dịch sang tiếng Việt với nhan đề Tất định luận và tự do lựa chọn ấn hành một thập niên sau đó, là tuyển tập các tiểu luận cấu thành một trong những cuộc tấn công bền bỉ nhất của thế kỷ hai mươi vào trí tưởng tượng tất định luận. Mục tiêu của Berlin to lớn hơn thầy bói: Hegel, Marx, Comte, những kiến trúc sư của tính tất yếu lịch sử, những kẻ đã giảng dạy rằng các sự kiện tuân theo những quy luật có thể khám phá được và một nhà quan sát khai sáng có thể đọc hướng đi của lịch sử tự tin như nhà thiên văn dự đoán nhật thực. Nhưng cấu trúc của sự cám dỗ ở mọi quy mô đều giống hệt nhau. Người Marxist kiên quyết cách mạng là điều tất yếu và cô gái trẻ Sài Gòn xem tử vi trước buổi phỏng vấn xin việc, ở những cung bậc khác nhau, đều đang vươn về cùng một sự an ủi. Họ muốn được nghe một kịch bản đã vạch sẵn. Ai đó, hay điều gì đó, đã định đoạt xong xuôi.

Berlin đặt ra một câu hỏi căn bản đến mức hầu hết triết gia coi nó là quá thấp kém đối với mình: liệu có tồn tại một góc nhỏ nào, dù nhỏ bé đến đâu, trong vương quốc bao la của luật tự nhiên, nơi con người hành động theo cách mình chọn và không bị ép buộc phải chọn bởi những nguyên nhân xảy ra trước mình hay không? Và nếu góc ấy không tồn tại, thì ý thức về sự tự do mà hầu hết mọi người đều mang trong mình, rằng cái cảm giác rằng một số hành động của ta thực sự là của ta, sẽ là ảo tưởng khổng lồ nhất trong lịch sử nhân loại. Adam ăn trái cấm. Ông ta không viện cớ: “Tôi không thể làm khác. Tôi không hề làm điều đó một cách tự do. Eva đã ép tôi”. Sự khước từ trốn tránh trách nhiệm ấy, đối với Berlin, là khởi nguyên của đời sống đạo đức.

Liệu lời biện hộ của Berlin cho góc nhỏ nhoi ấy có đủ sức chống chọi lại một thời đại đã tìm ra vô số cách thức mới mẻ và đầy mưu mô để trốn chạy khỏi nó hay không, lại không mấy rõ ràng như những người ngưỡng mộ ông vẫn tưởng.

Phải thừa nhận rằng hệ thống lập luận bảo vệ ấy có sức công phá đáng gờm. Đòn tấn công của Berlin vào thuyết tất định được rải qua nhiều tiểu luận trong Liberty, mỗi bài nhắm vào một khía cạnh khác nhau của cùng kẻ thù, và hiệu ứng tích lũy ít giống một chuyên luận triết học mà giống một cuộc vây hãm được tiến hành từ nhiều trận địa.

Mũi nhọn sắc bén nhất Berlin nhắm vào “Tính tất yếu của lịch sử”, bài giảng Tưởng niệm Auguste Comte, nơi ông mở đầu bằng sự đánh giá rộng lượng đặc trưng dành cho chính Comte trước khi quay ngoắt lại để đánh sập toàn bộ dự án mà Comte đã khởi xướng. Mục tiêu của Berlin là niềm tin, chia sẻ dưới nhiều biến thể bởi Hegel, Marx, Spengler và Toynbee: lịch sử tuân theo những quy luật có thể khám phá, và nhà quan sát sáng suốt có thể đọc hướng đi của nó với sự tự tin gần ngang khoa học. Berlin không phủ nhận sự tồn tại của các khuôn mẫu trong công việc nhân sinh, cũng không phủ nhận nhu cầu sử gia phải tổ chức tư liệu thành những cấu trúc dễ hiểu. Điều ông phủ nhận là bước nhảy từ khuôn mẫu sang quy luật, từ khuynh hướng sang tất yếu. Sử gia giải thích sự kiện, đó là một việc. Triết gia lịch sử tuyên bố những sự kiện ấy không thể diễn ra theo cách nào khác lại là việc hoàn toàn khác về bản chất: họ đang lén tuồn siêu hình học vào dưới lớp diễn ngôn khoa học. Chính hệ quả đạo đức của sự đánh tráo ấy mới là điều ám ảnh Berlin hơn hết thảy. Nếu mỗi sự kiện là sản phẩm tất yếu của các nguyên nhân tiền đề, thì ngôn ngữ về trách nhiệm phải sụp đổ. Nói Stalin tàn nhẫn, hay những người kulak chịu khổ bất công, hay Auschwitz là cái ác, theo logic tất định luận, chỉ là đắm chìm trong ủy mị thay vì phân tích. Kẻ theo tất định luận triệt để buộc phải coi những phán xét ấy là biểu hiện của sự dốt nát: một khi hiểu chuỗi nhân quả, ta sẽ thấy sự kiện không thể diễn ra khác đi, và phẫn nộ đạo đức trở nên phi lý chẳng khác gì nguyền rủa khi trời đổ mưa. Berlin thẳng thừng về hàm ý của điều này. Kẻ tất định luận không chỉ phạm lỗi logic; hắn cung cấp cho mọi bạo chúa một lấp liếm ngoại phạm: không thể làm khác đi được; cách mạng đòi hỏi thế; lịch sử buộc phải thế; lực lượng sản xuất không để lại lựa chọn nào khác. Với Berlin, đây là sự thoái thác nghiêm túc đạo đức, khoác trên mình chiếc áo choàng của sự tinh vi trí thức chứ không đơn thuần chỉ là một dạng triết học tồi.

Nhưng sự tàn phá quyền tự quyết không phải lúc nào cũng xuất hiện trong bộ quân phục của tính tất yếu lịch sử. Rất thường xuyên, nó mang theo ngọn cờ giải phóng. Trong Hai khái niệm về tự do, có lẽ là tiểu luận chính trị bị mổ xẻ nhiều nhất của thế kỷ ấy, Berlin chuyển từ sự chuyên chế lộ liễu của tất định luận sang một cơ chế tinh vi hơn: quá trình tự do bị vũ khí hóa để chống lại chính nó. Ông phân biệt hai cách hiểu: tự do phủ định là sự vắng mặt của can thiệp, rằng ta tự do ở mức độ không ai ngăn cản ta hành động theo ý mình; tự do khẳng định là sự làm chủ bản thân: ta tự do ở mức độ ta được cai quản bởi cái ngã lý tính đích thực, chứ không phải bởi dục vọng, ngu dốt, hay sự thao túng từ bên ngoài. Câu hỏi thứ nhất hỏi: bao nhiêu phần đời ta nằm trong tay ta? Câu hỏi thứ hai hỏi: ai hay điều gì đang kiểm soát nó?

Berlin không thù địch với cả hai khái niệm một cách cào bằng. Ông bảo vệ tự do phủ định như công thức trung thực hơn và ít nguy hiểm hơn, bởi tự do khẳng định mang trong lòng nó một cơ chế bạo ngược mà chính những người ủng hộ hiếm khi thừa nhận. Nếu tự do nằm ở chỗ tuân phục cái ngã “cao thượng hơn” hay “đích thực hơn,” thì câu hỏi ai xác định cái ngã cao thượng ấy trở nên cấp bách. Và nếu một cá nhân, bị dục vọng hay sự ngu dốt che mắt, thất bại trong việc nhận ra lợi ích đích thực của chính mình, thì kẻ nào đó khôn ngoan hơn có thể đòi quyền cưỡng chế anh ta, không phải chống lại tự do của anh ta, mà nhân danh nó. Đây chính là logic cho phép mọi chế độ toàn trị của thế kỷ hai mươi bỏ tù công dân trong khi tuyên bố đang giải phóng họ. Đảng Marxist, Berlin viết, nắm bắt được đòi hỏi của lý tính lịch sử; chỉ Đảng mới có thể dẫn dắt quần chúng u mê hướng tới lợi ích đích thực; và do đó cá nhân kháng cự Đảng không phải đang chống lại chủ nhân mà đang chống lại bản tính sâu thẳm nhất của chính mình. Berlin truy vết khuôn mẫu này từ Plato qua Rousseau cho đến những biểu hiện đẫm máu nhất của thế kỷ. Không bạo chúa nào trên mặt đất, ông nhận xét, lại không thể sử dụng phương pháp lập luận ấy cho sự đàn áp ghê tởm nhất, nhân danh một cái ngã lý tưởng mà hắn đang tìm cách đưa đến chỗ khai hoa.

Vậy là đã có tên ủy viên chính trị Marxist và tay kỹ trị tự do cưỡng ép từ bên ngoài. Còn những kẻ tự đầu hàng từ bên trong thì sao? Từ hi vọng và sợ hãi dẫn đến tự do bàn về hình thức trốn tránh cổ xưa nhất và có lẽ quyến rũ nhất về mặt tâm lý: lời khuyên của phái Khắc kỷ (Stoicism). Nếu vạn vật đều chịu chi phối bởi luật tự nhiên, thì bậc hiền giả đạt được tự do không phải bằng cách thay đổi thế giới mà bằng cách thay đổi mối quan hệ của mình với nó. Thấu hiểu tính tất yếu của sự kiện tự nó là giải phóng: bậc trí giả hiểu vì sao mọi thứ phải như vậy thì không còn đau khổ vì kỳ vọng bị phụ bạc nữa. Họ được giải thoát khỏi cả hy vọng lẫn sợ hãi. Berlin đối xử với lập trường này tôn trọng hơn so với những gì ông dành cho phái Hegel hay Marxist, bởi nó không đưa ra yêu sách chính trị nào và cũng không đòi hỏi phải có nạn nhân. Nhưng ông coi nó là gian dối về căn bản trong việc che giấu cái mà nó hy sinh. Phái Khắc kỷ, Berlin lập luận, không khám phá ra thứ tự do sâu xa hơn. Họ cứu vớt từ ngữ bằng cách rút ruột ý nghĩa của nó. Khi một người nói “ta tự do,” anh ta muốn nói, tối thiểu, rằng mình đã có thể làm khác. Bậc hiền giả Khắc kỷ tuyên bố mình tự do trong khi khăng khăng không gì có thể khác đi được, đã thực hiện một trò ảo thuật ngôn từ. Ông ta mua lấy sự an nhiên bằng cái giá là quyền tự quyết. Berlin thừa nhận cuộc trao đổi của phái Khắc kỷ đôi khi là khôn ngoan, nhưng ông phủ nhận việc gọi đó là tự do.

Triết học, tuy vậy, có thể giữ những mối nguy hiểm ở một khoảng cách an toàn. Cái giá thực sự của tất định luận hiếm khi bị nắm bắt trong các bài giảng. Nó lộ ra trong một bức thư riêng Berlin viết cho George Kennan từ Oxford vào năm 1951, trong đó Kennan đã lập luận mỗi con người đều sở hữu một điểm yếu chí tử, một gót chân Achilles, và bằng cách khai thác nó, một kẻ thao túng lão luyện có thể biến một con người thành anh hùng, thành thánh tử đạo, hay thành một miếng giẻ rách. Berlin đã nắm chặt hình ảnh này khi phát biểu rằng toàn bộ nền văn minh đạo đức phương Tây dựa trên một tiền đề duy nhất: mỗi con người sở hữu năng lực lựa chọn mình sẽ làm gì và là gì, dẫu không gian cho lựa chọn ấy có chật hẹp đến đâu. Tất cả những gì ta gán cho phẩm giá, danh dự, lòng dũng cảm, và những mặt đối lập của chúng, sự tàn bạo, hèn nhát, thối nát, đều trở nên vô nghĩa nếu ta không coi con người là có khả năng theo đuổi các cứu cánh thông qua hành vi lựa chọn có chủ tâm. Linh hồn bị phá hủy, Berlin viết, chỉ khi ước muốn được lựa chọn đã bị bẻ gãy, khi con người mất đi mọi định hướng đạo đức trong mắt chính mình. Hạ một con người xuống tình trạng ấy, biến anh ta thành giẻ rách, là tội ác duy nhất không thể tha thứ, bởi nó không chỉ gây hại cho một con người. Nó tiêu diệt chính cái nhân tính khiến cho sự gây hại có thể được nhận biết là gây hại.

Điều phân biệt Berlin với những người bảo vệ tự do khác là khí chất không kém gì lập luận. Ông không tiếp cận với vấn đề với sự tự tin của người đã giải xong câu hỏi, mà với sự cảnh giác của người đã chứng kiến chuyện gì xảy ra khi kẻ khác tin rằng họ đã giải được nó. Sự phân biệt nổi tiếng của ông giữa con nhím, kẻ biết một điều vĩ đại, và con cáo, kẻ biết nhiều điều, áp dụng trước hết cho chính Berlin. Ông là con cáo tối thượng của tư tưởng chính trị thế kỷ hai mươi: một con người mà đối với họ, tính đa nguyên của các giá trị nhân bản là điều kiện thường trực cần tôn trọng chứ chẳng phải vấn đề cần vượt qua. Tự do và bình đẳng có thể xung đột. Công lý và lòng thương xót có thể kéo về những hướng khác nhau. Không nguyên lý đơn lẻ nào dung hòa được tất cả những điều tốt đẹp mà con người theo đuổi. Đây là xác tín sâu xa nhất của Berlin, và nó mang lại cho lời bảo vệ tự do của ông một đặc tính riêng. Ông không hứa tự do dẫn đến hạnh phúc, hay đức hạnh, hay kết cục tốt đẹp nhất có thể. Ông chỉ lập luận phương án thay thế, từ những kẻ khác rao giảng họ biết bạn nên sống thế nào với một niềm xác tín, còn tệ hơn nhiều.

Lập luận chống tất định luận là lập luận bênh vực cho sự nghiêm túc đạo đức. Đó là sự nhấn mạnh rằng khen chê, thay vì là thú xa xỉ tình cảm, chính là ngữ pháp của một thế giới nơi con người được đối xử như chủ thể hành động chứ không phải đồ vật. Berlin đưa ra lập luận ấy với sức tàn phá dữ dội nhắm vào giới ý thức hệ và giới giáo sư, vào những kiến trúc sư của tính tất yếu lịch sử và những kỹ sư của cái ngã cao cả. Nhưng chiến dịch của ông, bất chấp tất cả sự xuất chúng, được chiến đấu trên một mặt trận cụ thể. Kẻ thù của ông mặc áo choàng hàn lâm và mang thẻ đảng. Ông chưa bao giờ thực sự chuyển sự chú ý sang kẻ xem bói.

Kẻ xem bói là một hình tượng rất cổ xưa. Bà ta có trước Hegel hàng ngàn năm, đã đọc nội tạng động vật ở Lưỡng Hà khi người Hy Lạp còn đang bận tranh cãi linh hồn có bao nhiêu phần, và bà ta đã sống sót qua mọi hệ thống triết học từng cố giải thích hiện tượng này. Bà sống sót vì một lý do đơn giản: về căn bản thì bà ta không trả lời một câu hỏi triết học. Đó là một câu hỏi của phận người.

Berlin hiểu sự phân biệt này trên lý thuyết. Trong tiểu luận về sự ra đời của chủ nghĩa cá nhân Hy Lạp, ông nhận xét các lý thuyết vật lý của Plato và Aristotle có thể bị bác bỏ và chôn vùi; nhưng quan điểm của họ về đạo đức và chính trị thì không, bởi chúng chạm vào một thứ gì đó trong trải nghiệm con người, thứ không trở nên lỗi thời khi khoa học thay đổi. Vũ trụ quan của nhà chiêm tinh là vô nghĩa theo mọi tiêu chuẩn hiện đại. Nhưng nỗi khao khát đưa một người đến những nơi xa xôi ngoài vũ trụ lại không phải là mệnh đề vũ trụ học. Đó là tiếng kêu đòi được định hướng trong một thế giới mang lại cảm giác quá đỗi tùy tiện. Và tiếng kêu thì không bao giờ lỗi thời.

Berlin dành cả sự nghiệp để tháo dỡ một loài tất định luận - loài chính trị. Lịch sử có quy luật, giai cấp vô sản phải thắng, nhà nước hành chính phải bành trướng, và cá nhân vĩ đại chỉ là công cụ của những thế lực lớn lao hơn chính mình. Đây là chủ nghĩa tất định của giáo sư và bí thư đảng, và Berlin đã xé toạc nó với sự triệt để chưa ai vượt qua nổi. Nhưng tất định luận chính trị, dù sức tàn phá khủng khiếp trong thế kỷ hai mươi, chỉ là một khuôn mặt của một sinh vật có ít nhất ba đầu.

Khuôn mặt thứ hai là bói toán. Con đường của bạn không được quyết định trong các quy luật của duy vật lịch sử mà trong những khuôn mẫu vũ trụ cổ xưa hơn bất kỳ ý thức hệ nào: cách sắp xếp của những vì tinh tú hay chòm sao vào giờ sinh, những đường chỉ tay hằn trên lòng bàn tay, hay là những lá bài rơi ra trong khi đang được xáo bởi bàn tay mà người xem quả quyết là được dẫn dắt bởi một thế lực vượt ngoài tầm hiểu biết. Hình thức tất định này không đòi hỏi gì về chính trị, nó cũng không kêu gọi cách mạng hay phục tùng đảng tiên phong. Nó vận hành ở quy mô đời sống cá nhân: có lấy chồng được không, công việc kinh doanh có suôn sẻ không, nên nhận việc ở quê nhà hay ở lại Sài Gòn. Những câu trả lời nó cung cấp thì khiêm tốn, riêng tư, và an ủi theo đúng cái cách mà lời biện hộ mạnh mẽ của Berlin về năng lực đạo đức con người thì không. Người xem tarot không đưa ra cam kết nhận thức luận về tính đóng kín nhân quả của vũ trụ. Họ mua vài phút nhẹ nhõm khỏi sự choáng ngợp khi phải tự quyết định, với giá chỉ bằng vài ly cà phê.

Cuộc triệt hạ triết học của Berlin, dẫu đúng đắn đến đâu, không chạm tới vấn đề. Lập luận của ông dựa vào việc vạch trần một lỗi logic: kẻ theo tất định luận nhầm lẫn giải thích với biện minh, khuôn mẫu với tất yếu, tính đều đặn của luật tự nhiên với tính không thể tránh khỏi của hành vi con người. Thân chủ của kẻ xem bói không mắc lỗi ấy, bởi cô ta chưa hề xây dựng một mệnh đề nào, cũng chẳng lập luận tương lai đã định sẵn; cô chỉ hy vọng ai đó nói cho cô rằng chuyện đã được định sẵn, để gánh nặng lựa chọn được nhấc bổng, dù chỉ chốc lát, khỏi đôi vai cô. Berlin có thể phá hủy tam đoạn luận, nhưng cơn khao khát nuôi dưỡng bói toán thì không phải là tam đoạn luận; nó đơn thuần chỉ là cơn đói.

Khuôn mặt thứ ba Berlin có bàn đến, trong Từ hi vọng và sợ hãi dẫn đến tự do, nhưng với độ chính xác hơi kém so với khi ông đối phó với loài chính trị. Truyền thống Khắc kỷ khuyên một sự từ bỏ cụ thể: phân biệt cái gì nằm trong khả năng của bạn và cái gì không, chỉ chú tâm vào cái trước, và bạn sẽ đạt được an nhiên mà không hoàn cảnh bên ngoài nào quấy phá nổi. Berlin, như đã thấy, coi đây là trò ảo thuật ngôn từ, một sự tái định nghĩa tự do cho đến khi từ ngữ trống rỗng. Ông đúng về những người Khắc kỷ rêu rao bậc hiền giả “tự do” ngay cả trong xiềng xích. Nhưng ông ít chú ý hơn đến một phiên bản tinh vi hơn của cùng lời khuyên ấy trong thế kỷ của chúng ta, phiên bản (có lẽ) đã trở thành hình thức tư duy tất định phổ biến nhất trong đời sống thường nhật. Từ vựng về wellness hay chữa lành về “chấp nhận” và “buông bỏ”, cái mệnh lệnh “hãy tập trung vào những gì bạn kiểm soát được”, tất cả tái chế công thức Khắc kỷ mà thiếu vắng sự nghiêm ngặt triết học hay vẻ hùng tráng bi kịch của nguyên bản. Những người Khắc kỷ đời đầu hiểu lời khuyên của họ nghiêm khắc, nó đòi hỏi một loại khổ hạnh tinh thần mà hầu hết người thời nay không thể duy trì. Phiên bản đương đại đã được pha ngọt cho tiêu dùng đại chúng, vì nó chẳng đòi hỏi gì cao siêu, trong khi nó vẫn hứa hẹn sự bình yên trong tâm hồn. Và trên thực tế, nó vận hành như một hình thức buông xuôi nằm dưới lớp vỏ của ngôn ngữ trao quyền.

Điều Berlin không thể thấy trước, vì thế giới trí tuệ của ông xoay quanh Oxford và Chiến tranh Lạnh, là sự hội tụ của ba khuôn mặt ấy trong cùng một quần thể. Hãy xem hoàn cảnh của một người trẻ ở Sài Gòn. Cô được giáo dục trong một hệ thống trường lớp giảng dạy, dẫu chỉ qua loa chiếu lệ, lý thuyết Marx-Lenin về phát triển lịch sử: xã hội tiến qua các giai đoạn do phương thức sản xuất quyết định; Đảng Cộng sản, sở hữu hiểu biết khoa học về các quy luật ấy, dẫn dắt dân tộc đến đích tất yếu. Cô hấp thụ khuôn khổ này không phải như một đức tin sống động mà như tiếng ồn nền của văn hóa chính thống, giống cách một đứa trẻ Pháp hấp thụ nguyên tắc thế tục (laïcité): không hẳn tin, nhưng biết đó là thứ người ta phải tin. Trên điện thoại, cô theo dõi ba bốn tài khoản tarot trên TikTok. Cô xem tử vi đầu mỗi năm âm lịch. Năm ngoái khi phân vân có nên nhận lời mời làm việc hay không, cô tham vấn một thầy bát tự. Thầy phân tích tám chữ ngày sinh và khuyên thời điểm không cát tường, khiến cô suy nghĩ và hoãn quyết định thêm hai tháng. Cô không coi những thứ trên đây là mê tín, mà đơn thuần chỉ là cẩn trọng: mình cần thu thập thông tin từ mọi nguồn có thể trước khi thực hiện. Và trên cùng chiếc điện thoại ấy, ở một app khác, cô đọc tài khoản đăng lời nhắc nhở hàng ngày rằng “hãy buông bỏ những gì bạn không kiểm soát được”, “hãy tin vào quá trình”, và “hãy ngưng nghĩ quá nhiều và bắt đầu sống”. Chúng làm cô thấy dễ chịu. Chúng giúp cô an giấc.

Ba hệ từ vựng của vận mệnh. Ba cách nói: kịch bản đã tồn tại, hoặc kết quả không thuộc quyền bạn quyết định, hoặc bản thân nỗ lực quyết định nó chính là sự quẫy đạp tuyệt vọng mà chẳng thay đổi được gì. Cô không cảm thấy chúng mâu thuẫn, bởi chúng phục vụ những chức năng khác nhau ở những khoảnh khắc khác nhau. Chủ nghĩa Marx là vật trang trí của không gian chính thống, là phông nền chế độ bày biện ra chứ không ai còn thực sự cư ngụ trong đó. Bói toán là cơ chế đối phó, không phải hệ siêu hình. Sự buông xuôi của wellness là nhạc nền, cũng chẳng phải triết lý. Không thứ nào yêu cầu cô làm điều duy nhất mà Berlin khăng khăng là dấu hiệu của một con người tự do: đứng trước tương lai rộng mở và tự lựa chọn, biết rằng không kịch bản nào bảo đảm kết quả, không phương pháp nào tiết lộ đáp án đúng, và trách nhiệm cho lựa chọn ấy là của riêng cô.

Berlin, trong Từ hi vọng và sợ hãi dẫn đến tự do, gọi việc ôm ấp tất định luận là “một lựa chọn đặc biệt hèn nhát”. Đó là một phán xét đầy nghiêm khắc, và từ góc nhìn của một phòng nghiên cứu ở Oxford năm 1951, có lẽ còn bất công. Lên án một vị giáo sư có biên chế là hèn nhát vì chấp nhận một lập trường triết học tiện lợi xóa bỏ trách nhiệm đạo đức là một chuyện; nhưng nói điều tương tự với một phụ nữ ở tuổi đôi mươi tại một đất nước mà những thiết chế từng kiến tạo ý nghĩa cho cuộc sống đã bị phá hủy có hệ thống, nơi ngôn ngữ giá trị đã bị rút ruột bởi hàng thập kỷ dối trá chính thức, và nơi thị trường chào mời hàng trăm loại hình phân tâm cho mỗi khoảnh khắc chiêm nghiệm chân thực, lại là chuyện hoàn toàn khác. Đó không thuần là hèn mạt, chỉ là thiếu sự chuẩn bị. Nhưng theo nghĩa nào? Câu trả lời đòi hỏi phải bước ra ngoài hệ quy chiếu của Berlin, nghĩa là bước ra ngoài giả định rằng mối đe dọa chính đối với tự do đến từ những kẻ phủ nhận nó trên lý thuyết.

Berlin viết với tư cách một con người sống giữa thế kỷ hai mươi, và kẻ thù của ông là những tay phản diện đặc trưng của thế kỷ ấy: nhà ý thức hệ với triết học lịch sử, viên chính ủy với chỉ tiêu sản xuất, tay kỹ sư xã hội, và những kẻ biết bạn thực sự muốn gì rõ hơn cả chính bạn. Lời biện hộ của ông cho tự do phủ định được thiết kế cho một thế giới mà nhà nước là con thú săn mồi đứng trên đỉnh. Chúng nhằm bảo vệ một không gian quanh cá nhân, cấm nhà nước xâm nhập, và bảo đảm không quyền uy nào, dù sáng suốt đến đâu, có thể ép buộc con người sống theo quan niệm của kẻ khác về điều thiện lành. Đây là dự án của Berlin, và nó không thể thiếu dưới tư cách là một thành lũy chống lại toàn trị.

Nhưng bên trong không gian được bảo vệ ấy thì sao? Berlin từ chối trả lời. Trang bị nội thất cho căn phòng, tức kê đơn cho con người tự do nên làm gì với tự do của mình, là phạm chính cái tội mà ông dành cả đời để phê phán. Đó sẽ là một hình thức khác của tự do khẳng định, một chuyên gia khác tự nhận biết lợi ích đích thực của bạn. Cho nên căn phòng vẫn trống, tường vẫn vững chãi và cửa vẫn có khóa, nhưng bên trong ngày càng trở nên trống không: không hệ từ vựng đạo đức nào được thừa kế, không cộng đồng phán xét đạo đức, không nghi lễ nào kết nối lựa chọn hiện tại với bất cứ thứ gì lớn lao hơn những thèm muốn và lo âu của chính người lựa chọn.

Đó là chỗ khung lý thuyết của Berlin rạn nứt, và vết nứt ấy không phải để bác bỏ ông mà là những vết rạn để ánh sáng của những khám phá mới rọi vào. Berlin giả định trở ngại chính cho tự do con người là sự cưỡng bức từ bên ngoài. Bằng việc gỡ bỏ cưỡng bức, năng lực lựa chọn tự nhiên của con người sẽ lại triển nở và khẳng định mình. Cá nhân, khi rũ bỏ ách chuyên chế ý thức hệ, sẽ làm điều mà con người tự do của Mill làm: tìm kiếm các cứu cánh theo cách riêng, như một kỵ sĩ chứ không phải con ngựa. Điều Berlin không tính đến, hoặc cố tình không mổ xẻ, là khả năng gã kỵ sĩ khi được trao dây cương lại van xin ai đó cầm lấy giùm. Không phải vì tay ủy viên đang chĩa súng vào đầu. Mà bởi con đường trước mắt quá đỗi mênh mông và anh ta không có lấy một khái niệm nào về nơi cần đến.

Nguyễn Văn Trọng, trong lời bạt bản dịch tiếng Việt, thoáng thấy điều này khi ông dẫn Fromm: nỗi sợ hãi khi phải ở một mình với chính mình thực ra là cảm giác bối rối cận kề với nỗi kinh hãi, phải nhìn thấy một nhân ảnh vừa quen thuộc vừa xa lạ, khiến ta giật mình lùi lại và lẩn trốn. Và thế là con người hiện đại chọn cách nhập bọn với phường vô giá trị để nhậu nhẹt và tán nhảm, còn hơn là ngồi yên trong im lặng với lương tâm mình. Nguyễn Văn Trọng viết những dòng ấy tại Sài Gòn năm 2016, và chúng mô tả một tình trạng chỉ trầm trọng hơn trong thập niên sau đó. Cuộc chạy trốn khỏi bản ngã nay đã được công nghiệp hóa. Ứng dụng tarot là một sản phẩm giữa hàng ngàn sản phẩm được thiết kế để bảo đảm cuộc chạm mặt mà Fromm mô tả không bao giờ có thể xảy ra.

Nông thôn Việt Nam trước 1954, hệ sinh thái ý nghĩa dày đặc, nhiều tầng, phần lớn còn nguyên vẹn. Trọng tâm của nó là bàn thờ gia tiên trong mỗi gia đình, một sự nhắc nhở vật chất rằng các lựa chọn của bạn đang được những người đã khuất chứng giám. Bạn mang nợ trải dài cả về quá khứ lẫn tương lai. Bạn là một mắt xích trong mạng lưới nghĩa vụ kéo dài qua nhiều thế hệ, chứ không phải hạt nguyên tử trôi nổi giữa hư không. Quanh bàn thờ hội tụ cả một chòm sao thể chế: đình làng với hội đồng kỳ hào, chùa chiền Phật giáo và đạo quán Đạo giáo đánh dấu lịch trình của cõi thiêng, trường lớp Nho học truyền thụ hệ từ vựng đạo đức, đại gia đình vừa kỷ luật vừa nâng đỡ các thành viên theo những cách mà nhà nước không có khả năng và cũng không bao giờ tìm cách thay thế. Không thiết chế nào trong số này là vô tội. Gia trưởng đè bẹp phụ nữ và những người con thứ. Đình làng có thể nhỏ nhen, ngột ngạt và tàn nhẫn. Các cơ sở tôn giáo dung dưỡng tham nhũng bên cạnh lòng mộ đạo. Những điều ấy đúng, nhưng không liên quan đến luận điểm cấu trúc: dẫu có khiếm khuyết đến đâu, các thiết chế ấy đã trang bị nội thất cho không gian mà trong đó lựa chọn đạo đức có thể được thấu hiểu. Một con người đứng giữa bổn phận và dục vọng trong thế giới ấy ít nhất có thể gọi tên cái mà mình đang chọn lựa.

Nhà nước đến, không mang theo cải cách mà thích xây lại từ đống tro tàn của những cái họ đến phá hủy. Cải cách ruộng đất ở miền Bắc thanh trừng kỳ hào và nghiền nát đình làng với tư cách cơ quan cai quản tự trị. Trấn áp tôn giáo đóng cửa chùa chiền, giải tán tăng lữ, đẩy sinh hoạt tâm linh vào thế giới ngầm. Tập thể hóa thay nền kinh tế hữu cơ của hộ gia đình bằng nền kinh tế hành chính của hợp tác xã. Bàn thờ gia tiên sống sót, bởi nó bám rễ quá sâu vào đời sống gia đình để có thể nhổ bỏ mà không kích động nổi loạn, nhưng hệ sinh thái đạo đức vốn mang lại sức nặng cho nó thì đã bị rút ruột. Bàn thờ vẫn đứng đó, nhưng cái mà nó chỉ về, cảm thức về sự tiếp nối, về nghĩa vụ được chứng giám, về những lựa chọn có ý nghĩa vượt ngoài vòng đời cá nhân, đã bị rút cạn nội dung một cách tịnh tiến.

Rồi, sau 1986, thị trường tràn tới. Không phải với tư cách lực lượng giải phóng theo nghĩa Hayek, cũng không phải kẻ hủy diệt truyền thống mà những người Marxist từng lo ngại. Nó mang dáng dấp của một thứ tầm thường hơn: chất lấp khoảng trống. Nơi xã thôn từng tổ chức đời sống tập thể, thị trường tổ chức sự tiêu dùng. Nơi chùa chiền từng cung cấp sự định hướng hướng tới cái siêu việt, thị trường cung cấp muôn hình vạn trạng những thứ thay thế: Phật giáo cầu tài cầu an, chiêm tinh thương mại, dịch vụ tarot định giá cho cơn bốc đồng mua sắm. Nơi đại gia đình từng truyền thụ tri thức đạo đức qua các thế hệ, thị trường truyền bá thương hiệu lối sống qua màn hình. Thị trường không gây ra sự tàn phá. Nó đến sau sự tàn phá và chiếm làm thuộc địa những gì còn sót lại.

Bói toán phát triển rực rỡ trên mảnh đất ấy, và đó là cảnh quan mà Berlin từ Oxford không thể nhìn thấy. Ông sống trong một thế giới mà nội thất thể chế của văn minh phương Tây, dù đã sờn, vẫn còn nguyên vẹn đáng kể: nhà thờ, đại học, truyền thống pháp lý, hiệp hội dân sự, thói quen của nền quản trị dân chủ. Đây là những thiết chế khiến cho tự do phủ định trở nên có thể trú ngụ được. Gỡ bỏ cưỡng bức bên ngoài, cá nhân ở nước Anh hay nước Mỹ thời hậu chiến không đứng trong căn phòng trống. Cô ấy đứng trong một căn phòng đầy, có lẽ chật chội, những nguồn lực đạo đức tích lũy qua nhiều thế kỷ. Berlin có đủ điều kiện để tập trung vào việc bảo vệ căn phòng khỏi sự xâm nhập bởi nội dung của căn phòng, với ông, là điều đương nhiên đã được trao sẵn.

Ở Việt Nam thì căn phòng đã bị dọn sạch. Những bức tường Berlin xây vẫn có giá trị: bất cứ ai sống trung thực dưới một nhà nước độc đảng đều biết giá trị của không gian mà chế độ không thể bước vào. Nhưng chỉ riêng bức tường thì không giải thích được tại sao một phụ nữ trẻ không thiếu thốn vật chất và không bị đe dọa chính trị trước mắt lại cầm bộ bài tarot lên để quyết định có nên đổi việc hay không. Cô không bị cưỡng ép, hay là nạn nhân của một ý thức hệ phủ nhận tự do ý chí. Cô là con người đứng trong không gian được bảo vệ của Berlin, không tìm thấy gì bên trong nó cho cô biết phải chọn thế nào, và với tay lấy vật gần nhất hứa hẹn biến việc chọn thành thứ không cần thiết nữa.

Bốn mươi chín kẻ hành nghề bói toán trong Trận Chiến Định Mệnh, dưới ánh sáng này, là một bản chẩn đoán chứ chẳng phải hiện tượng dị thường. Một nền văn minh có thể sản xuất chương trình ấy, có thể biến sự mô phỏng hướng dẫn vũ trụ thành trò giải trí, là nền văn minh đã giải xong bài toán khan hiếm vật chất và phát hiện bài toán tiếp theo, bài toán ý nghĩa, là khó hơn rất nhiều. Thí sinh thực hiện chức năng nghi lễ mà không có nội dung thiêng liêng của nghi lễ. Khán giả tiêu thụ hình thức của cái siêu việt mà không có chất liệu. Và mọi người đều hiểu, ở mức nào đó, những gì đang xảy ra không có thật, rằng quân bài chẳng hề biết trước tương lai và sao trời chẳng hề cất lời; nhưng cơn đói khát một kẻ nào đó hoặc một thế lực nào đó có biết, đã định đoạt xong xuôi, có thể giải tỏa cho cá nhân khỏi sự choáng ngợp trước tự do, cơn đói khát ấy có thật như bất cứ điều gì Berlin từng viết, và triết học của ông không có câu trả lời cho nó.

Đây không phải thất bại của Berlin. Đây là giới hạn. Tự do phủ định là điều kiện cần của nhân phẩm, nó không phải điều kiện đủ. Berlin đúng khi từ chối trang bị nội thất cho căn phòng, bởi khoảnh khắc một triết gia tự phụ nói cho bạn biết tự do dùng để làm gì, triết gia ấy đã thành bạo chúa. Nhưng sự từ chối ấy để lại khoảng trống, và khoảng trống ấy ngay lập tức bị xâm lấn: nếu nhà nước lấp đầy nó bằng ý thức hệ mòn cũ, thì thị trường ào ạt đổ vào với muôn hình vạn trạng hàng hóa mang vỏ bọc tâm linh, và kẻ xem bói chỉ việc điềm nhiên thế chỗ bằng những quân bài. Và cá nhân tự do của Berlin bên trong căn phòng, bị bỏ lại với nhiệm vụ tự chọn giữa các vật thay thế mà không có tiêu chuẩn nào để phân biệt câu trả lời chân chính với lời dối trá sinh lời.

Hỏi liệu có thể tái lập bất kỳ tiêu chuẩn đạo đức nào mà không sụp đổ trở lại thành chuyên chế là đặt câu hỏi định nghĩa cho thế giới xuất hiện sau sự sụp đổ của truyền thống. Chủ nghĩa đa nguyên giá trị của chính Berlin gợi ý nó không thể được giải quyết trên nguyên tắc, rằng sự đa dạng bất khả ước của các giá trị tốt đẹp đồng nghĩa với việc không khung nào trang bị được nội thất cho căn phòng của tất cả mọi người. Có lẽ vậy. Nhưng bằng chứng từ Việt Nam cho thấy một căn phòng hoàn toàn không nội thất không phải đa nguyên. Đó là bỏ rơi. Và kẻ xem bói, dẫu với tất cả hạn chế, ít nhất cũng đã bước vào và ngồi xuống.

Nguyễn Văn Trọng đề xuất trong lời bạt một sự phân biệt mà chính Berlin chưa bao giờ diễn đạt rõ ràng một cách dung dị đến thế. Có hai loại phán xét con người có thể đưa ra, ông viết. Loại thứ nhất là phán xét sự kiện: phân tích tình huống để xác định cách tối ưu hóa lợi ích cho mình. Loại thứ hai là phán xét giá trị: thẩm định cái gì đúng, cái gì đáng trọng, cái gì đáng chọn ngay cả khi phải trả giá tất cả. Rồi ông đưa ra quan sát của mình: phần lớn người Việt hiện đại hình như chỉ biết đến loại thứ nhất. Thành công đồng nghĩa với đức hạnh. Thất bại chứng tỏ sai lầm. Ai tối ưu giỏi nhất, người ấy đáng ngưỡng mộ nhất.

Nếu cuộc đời là bài toán tối ưu, thì người xem tarot chỉ là một nguồn dữ liệu nữa, không khác gì về bản chất so với nhà phân tích thị trường hay người tư vấn nghề nghiệp. Bạn thu thập thông tin từ mọi kênh có thể, sao trời, quân bài, thuật toán, báo cáo doanh thu quý, rồi đi nước có xác suất sinh lời cao nhất. Phạm trù đúngsai đã bị lặng lẽ thay bằng hiệu quảkém hiệu quả. Berlin hẳn sẽ nhận ra đây là thảm họa. Một con người nhìn cuộc đời như bài toán tối ưu đã đầu hàng tự do của mình rồi, không phải trước bạo chúa hay viên ủy viên, mà trước một phép tính. Không ai cưỡng ép cô. Cô chỉ quên mất còn có thứ gì để chọn ngoài kết quả.

Nhưng Nguyễn Văn Trọng nhớ một người đã không quên. Vào những năm tàn cuối cùng của một vương triều đang sụp đổ, quan lớn Nguyễn Khuyến nắm giữ một chức vụ có phẩm hàm và bổng lộc đáng kể. Thế rồi ông cáo quan, lui về quê cũ. Ông sống những năm tháng còn lại trong thanh bần, viết thơ, bởi chế độ ông phụng sự đã biến thành thứ ông không thể tiếp tục phụng sự mà vẫn giữ được chính mình. “Danh cao sợ lấn lòng ngay mất,” khi danh vọng lên cao, người ta sợ nó sẽ lấn át sự chính trực. Những đồng liêu vẫn tại vị thì ăn ngon mặc đẹp, thăng tiến đều đều. Nguyễn Khuyến, xét theo mọi thước đo của phán xét sự kiện, đã thất bại: nghèo, vô danh, chẳng tối ưu được điều gì đáng kể. Nhưng chẳng ai khinh miệt ông vì điều đó. Người quanh ông hiểu, mà không cần chuyên luận triết học nào giải thích, rằng những gì Nguyễn Khuyến đã làm không phải là tính toán sai. Đó là một hành vi tự do đạo đức theo nghĩa khắc khổ nhất mà Berlin có thể mong ước: một con người đứng trước lựa chọn mở, cân nhắc cái mình có thể được với cái mình sẽ đánh mất thuộc về chính mình, và chọn sự mất mát. Không bộ bài tarot nào sẽ bảo ông làm thế, không công thức Khắc kỷ nào, hay quy luật lịch sử nào tiên đoán. Ông chọn trong sự tự do của chính mình, trong hiểu biết trọn vẹn rằng lựa chọn của mình sẽ chẳng mang lại gì ngoài quyền được sống không hổ thẹn.

Triết học của Berlin bảo vệ hành vi ấy. Văn hóa bói toán khiến nó trở nên không thể thấu hiểu nổi. Trong một thế giới nơi mọi phán xét đều là phán xét sự kiện, Nguyễn Khuyến là kẻ ngốc: ông có dữ liệu mà đi sai nước. Trong một thế giới nơi phán xét giá trị vẫn còn hơi thở, ông là thứ hiếm hoi hơn: một con người chứng minh cái góc nhỏ tự do mà Berlin dành cả đời để bảo vệ là nơi con người thực sự đứng, đôi khi đứng một mình, đôi khi chọn đúng với cái giá đắt, và bằng cách ấy chứng minh cái góc nhỏ ấy tồn tại.

Berlin trao cho chúng ta những bức tường. Ông đúng khi xây chúng và đúng khi từ chối trang bị nội thất cho căn phòng. Kẻ xem bói sẽ luôn có khách, bởi sự choáng ngợp khi phải lựa chọn mà không có kịch bản là có thật, và cơn đói khát ai đó đã định đoạt xong xuôi thì cổ xưa bằng chính giống loài này. Nhưng những bức tường không phải lời cuối cùng. Đâu đó giữa tự do phủ định khắc khổ của Berlin và chủ nghĩa tất định êm ái của kẻ xem bói, có hình bóng của Nguyễn Khuyến, lê bước về làng với hai bàn tay trắng và một cốt cách ngạo nghễ, minh chứng rằng tự do không phải là việc ta không có tấm bản đồ. Tự do là sự sẵn lòng dấn bước dẫu biết rằng tấm bản đồ ấy chưa từng được vẽ sẵn.

Read the original on archyatt.substack.com

Comments

Nothing yet. Say the first thing.

    Sign in to join the conversation.