RSS Amplifier

WISEPSYZINE · Aug 1, 2026

HIỂU LÀ KHỞI ĐẦU, CHUYỂN HOÁ MỚI LÀ HÀNH TRÌNH

0
Sign in to vote or save

WISEDUCATION · WISEPSYZINE

Trong phiếu đăng ký buổi chuyên đề, WISEDUCATION có hỏi một câu: điều anh chị mong muốn nhất khi tham dự buổi chia sẻ này là gì. 417 người đã trả lời, và chúng tôi đọc hết.

Điều đáng chú ý là nhóm câu trả lời trở lại nhiều nhất không nói về việc muốn biết thêm điều gì. Nó nói về một chuyện khác: làm sao để những điều mình đã hiểu trở thành điều mình sống được.

Đó cũng chính là chỗ TS. Lê Nguyên Phương bắt đầu.

“Chúng ta đang sống trong thời đại mà kiến thức về tâm lý quá dễ tiếp cận. Ai cũng có thể nói về tổn thương, về chấn thương, về yêu thương chính mình. Thậm chí thiền tập cũng trở thành một “món hàng” mà ai cũng có cảm giác là mình có thể thu đạt được bằng cách xem vài cái video.”

“Nhưng tri thức tự nó không chuyển hoá được ai cả. Cũng như đọc sách về bơi lội thì không giúp chúng ta bơi được, thậm chí không giúp nổi trên mặt nước.”

Từ đó, TS. Lê Nguyên Phương đặt ra một phân biệt mà theo ông là quan trọng nhất của cả buổi. Thay đổi thường diễn ra ở bên ngoài: đổi việc, đổi chỗ ở, đổi một thói quen, và có thể giữ được trong vài tuần. Chuyển hoá là tái cấu trúc từ bên trong, gồm cách một người nhìn mình và nhìn thế giới, cách hệ thần kinh của họ phản ứng, và cách họ chọn để sống.

“Con sâu nó không sửa mình thành con bướm. Nó phải đi qua một tiến trình tan rã, phá cái kén cũ đi, và tái tạo lại một cách rất trọn vẹn. Chuyển hoá cá nhân cũng vậy. Không phải khoác thêm một cái áo mới lên con người cũ là chúng ta đã chuyển hoá, mà là để một con người mới, tự do hơn, chân thật hơn, được sinh ra.”

Suốt hai giờ, Tiến sĩ dẫn người nghe đi qua một bản đồ năm tầng, và giới thiệu bản đồ đó bằng chính lời của mình:

“Bắt đầu từ nhận thức, nơi những niềm tin cũ đang âm thầm vẽ ra những giới hạn của đời chúng ta. Đến hành vi, nơi thói quen giam giữ hay giải phóng chúng ta. Rồi đi sâu vào cảm xúc, nơi ta cần học cách lắng nghe thay vì chống lại chính mình. Sâu nhất của tầng cảm xúc chính là chạm đến chấn thương, nơi thân thể còn lưu giữ những gì mà tâm trí đã muốn quên. Và cuối cùng mở ra tầng hiện sinh, nơi ta trả lời câu hỏi lớn nhất: mình sống để làm gì, và thế nào là thành công, thế nào là hạnh phúc thật.”

Thứ tự này không đổi được, và đó không phải là chuyện bố cục. Ở phần hỏi đáp, khi một học viên hỏi lại về thứ tự, TS. Lê Nguyên Phương trả lời rằng năm tầng ấy là năm khía cạnh của thân tâm cần được chuyển hoá, và mỗi tầng chỉ mở ra được khi tầng trước đã tương đối vững.

Để năm tầng không dừng lại ở lý thuyết, Tiến sĩ dùng một ví dụ minh hoạ đi xuyên suốt cả buổi. Ví dụ đó là chân dung một người phụ nữ khoảng ba mươi tuổi, giỏi giang, tận tuỵ, được đồng nghiệp quý mến, được đặt tên là chị Lan. Ông nói rõ ngay từ đầu rằng đây là một nhân vật tổng hợp từ nhiều thân chủ trong phòng tham vấn và nhiều học viên trong lớp, không phải một người cụ thể.

Ở ví dụ minh hoạ này, người phụ nữ mang một quan niệm nằm sâu đến mức chị không biết mình đang mang nó: mình phải hoàn hảo mới được yêu mến.

Những quan niệm như thế không được phát biểu thành lời. Chúng vận hành ở tầng dưới của ý thức, và từ đó âm thầm quyết định những điều tưởng như rất nhỏ: nhận thêm việc dù đã quá tải, không dám nói không, kiểm tra lại một bản báo cáo đến lần thứ năm.

“Mọi hành vi đều có chức năng, có nhiệm vụ của nó trong cái hệ thân và tâm của chúng ta. Không có thói quen nào tồn tại lâu dài mà nó không phục vụ một nhu cầu nào đó.”

TS. Lê Nguyên Phương giới thiệu mô hình SEAT, tóm tắt bốn chức năng lớn của hành vi: kích thích giác quan, trốn tránh, thu hút sự chú ý, và tiếp cận điều ưa thích. Trong đó chức năng trốn tránh vi tế hơn nhiều so với hình dung thông thường. Nó không cần đến những hành vi lớn. Chỉ cần vừa thấy khó chịu là với tay lấy điện thoại, đó đã là trốn tránh.

Nhìn qua lăng kính này, sự trì hoãn trong ví dụ minh hoạ hiện ra khác đi. Người phụ nữ ấy không trì hoãn vì thiếu kỷ luật. Mỗi lần ngồi trước một đề án lớn, quan niệm mình không đủ giỏi thức dậy và mang theo nỗi sợ thất bại. Việc lướt điện thoại giúp chị thoát khỏi cảm giác ấy trong vài phút. Phản xạ vội vàng xin lỗi và làm hài lòng người khác cũng vậy, đó là cách chị mua lấy cảm giác an toàn trước con mắt của người khác.

“Hành vi ấy không phải là kẻ thù. Đó là một người bạn rất thân đang bảo vệ chị khỏi một nỗi đau bên trong. Chỉ có điều là người bạn ấy đang bảo vệ chị khỏi một nỗi đau do một niềm tin sai lạc gây ra, và cái giá của sự bảo vệ ấy càng ngày càng đắt.”

Và đây là chỗ Tiến sĩ dừng lại để nhấn:

“Khi chúng ta ngừng gọi mình là đứa lười, đứa thiếu kỷ luật, một đứa vô dụng, một đứa không đáng được thương yêu, mà bắt đầu hỏi lại rằng hành vi này đang che chở cho mình nỗi sợ nào, thì chúng ta đã bước từ tự trách sang tự hiểu. Bởi vì đằng sau tất cả những thói quen dai dẳng đó, không phải là sự lười biếng. Đó là một cảm xúc chưa được lắng nghe.”

Cảm xúc sơ cấp là những phản ứng bẩm sinh và phổ quát: vui, buồn, sợ, giận, ngạc nhiên, ghê tởm. Chúng xuất hiện trước cả suy nghĩ có ý thức, và mang thông tin trung thực về nhu cầu của chúng ta.

Cảm xúc thứ cấp thì được hình thành từ trải nghiệm, từ chuẩn mực văn hoá, và từ những quan niệm chúng ta học được, không ít trong số đó do chính cha mẹ và thầy cô đặt vào. Tội lỗi, xấu hổ, tự ti, ganh tị đều thuộc nhóm này. Nói cách khác, cảm xúc thứ cấp là cảm xúc về cảm xúc: phản ứng của những quan niệm ta đã học được, đối với những gì ta đang cảm.

TS. Lê Nguyên Phương đưa thêm một ví dụ về một người vợ nổi giận và nói với chồng rằng anh vô dụng, anh đi đêm không về chăm con. Cơn giận và những lời ấy là cảm xúc thứ cấp. Điều đau ở tầng sâu hơn là nỗi sợ bị bỏ rơi, nỗi sợ rằng người kia sẽ không còn thấy mình có giá trị nữa. Chỉ khi điều đó được nói ra thì cuộc đối thoại mới có một bước đột phá thật sự.

“Chúng ta thường rất mắc cỡ khi nói tới cảm xúc sơ cấp của mình. Mà chính cái mắc cỡ đó đã là cảm xúc thứ cấp rồi.”

Quay lại ví dụ minh hoạ. Buổi sáng nhận lời góp ý từ cấp trên, cảm xúc đầu tiên đến quá nhanh để người phụ nữ ấy nhận ra: nỗi sợ bị đánh giá, sợ bị từ chối. Đó là một cảm xúc chính đáng. Nhưng gần như tức thì, quan niệm rằng mình phải hoàn hảo mới được yêu mến bước vào và biến nỗi sợ ấy thành xấu hổ và tự trách. Chị khổ không vì nỗi sợ ban đầu, mà vì cảm xúc thứ cấp đội lên trên nó.

Và đây là chỗ có hy vọng. Cảm xúc sơ cấp là phản xạ sinh học, ta không chọn được. Cảm xúc thứ cấp được xây từ niềm tin và quan niệm. Mà quan niệm thì có thể nhận diện được, và chuyển hoá được.

TS. Lê Nguyên Phương bước vào tầng thứ tư một cách rất chậm, và nói trước rằng đây là vùng đất nhạy cảm nhất.

Điều đáng chú ý ở tầng này là chấn thương không nằm ở ký ức, mà nằm ở trạng thái sinh học đang tiếp diễn. Có những vùng cơ thể lúc nào cũng căng lên. Tiến sĩ gọi đó là thể giáp: hệ thần kinh gồng lên để bảo vệ chúng ta, và giữ nguyên trạng thái gồng đó rất lâu sau khi mối nguy đã đi qua.

Ông dẫn một trường hợp trong thực hành tham vấn của mình, một người có cơ vùng cổ cứng lại đến mức khám y khoa cũng phát hiện được, và cứ vào giấc là toàn thân rung lên với những cơn co thắt dữ dội. Người này từng được nhiều nơi giải thích rằng có vong theo. Nhưng khi ngồi xuống nói chuyện thì hiện ra cả một quá khứ đau thương: bị bỏ lại một mình ở nước ngoài, phải phấn đấu để tồn tại, không có nơi nào nương tựa, bị lừa bởi bạn bè và người thân thiết.

Ở tầng này Tiến sĩ giới thiệu khái niệm cửa sổ chịu đựng, với ba vùng. Vùng xanh là vùng an toàn, sáng suốt, kết nối, và là vùng duy nhất mà việc học hỏi, sáng tạo và yêu thương thật sự diễn ra được. Vùng vàng là vùng báo động, tim đập nhanh, cảnh giác, phòng thủ, dễ cáu gắt. Vùng đỏ là vùng quá tải, tê liệt, trống rỗng, có mặt mà không thật sự có mặt.

Người mang chấn thương có cửa sổ chịu đựng rất hẹp. Chỉ một kích hoạt nhỏ đã đủ đẩy họ sang vùng vàng, có khi sang vùng đỏ. Và họ phải dùng phần lớn năng lượng của mình chỉ để giữ thăng bằng.

TS. Lê Nguyên Phương nói rõ rằng mục tiêu không phải là xoá quá khứ, vì điều đó không ai làm được. Mục tiêu là mở rộng cửa sổ chịu đựng, và tăng khả năng trở về vùng xanh một cách nhanh chóng và linh hoạt.

Ở phần hỏi đáp, ông dẫn thêm một trường hợp khác từ thời gian thực hành tại Hoa Kỳ, một học trò mười sáu tuổi bị trầm cảm. Sau tám tuần trị liệu, điều em kể lại là: sáng nay con đi qua công viên, con thấy bầu trời màu xanh, và con nghe tiếng chim hót.

“Suốt cả thời gian bị trầm cảm và lo âu, sự chú ý của em dồn hết vào cái đau đớn trong tâm hồn, và em đánh mất kết nối với thực tại. Em không còn để ý rằng bầu trời trên đầu em vẫn xanh. Em không chú ý rằng trong công viên có rất nhiều chim đang hót.”

Từ đó Tiến sĩ nêu một điều mà nhiều người cần nghe: đó là lý do vì sao lời khuyên hãy trở về sống trọn vẹn với hiện tại, dù đúng, lại không dùng được cho một người đang mang chấn thương. Họ chưa kết nối được với thực tại. Yêu cầu họ làm điều đó là yêu cầu một việc bất khả.

Và một ý nữa, về cái giá của việc đè nén: khi chúng ta đóng những cảm xúc khổ đau lại, niềm vui cũng bị đóng vào cùng một căn phòng. Con người xây một bức tường thành quanh mình để không bị tổn thương, nhưng chính bức tường ấy cũng ngăn họ khỏi những người thật sự yêu thương và thông hiểu họ.

“Khi thân tâm chúng ta đã dần được phục hồi thì một câu hỏi mới, sâu hơn tất cả, bắt đầu cất tiếng lên. Tôi là ai. Tôi sống để làm gì. Và điều gì thật sự là đáng giá.”

TS. Lê Nguyên Phương cũng nói thẳng về một sai lầm phổ biến. Nhiều người theo các chương trình phát triển bản thân và mong muốn mình phải sống thật, phải sống trung thực với chính mình. Điều đó đúng. Nhưng khi chấn thương còn nguyên, những câu hỏi ấy chỉ dẫn người ta tới chỗ biện hộ cho tình trạng đang kéo dài, chứ không thể được trả lời một cách đứng đắn. Đó là lý do tầng hiện sinh được đặt ở cuối cùng.

Ở tầng này Tiến sĩ dẫn Irvin Yalom với bốn điều tất yếu mà mọi con người đều phải đối diện, và dẫn Roy Baumeister với bốn nhu cầu thiết yếu của một đời sống có ý nghĩa: mục đích, giá trị, hiệu quả, và giá trị bản thân. Khi cả bốn cột trụ này còn vững, con người mới đi qua được nghịch cảnh mà không gãy đổ.

Câu hỏi then chốt của tầng này, theo ông, là: ta đang sống chân thật, hay đang sống theo kịch bản của người khác?

“Rất nhiều người, tới một ngày họ nhận ra rằng cái ngôi nhà mình đang ở, cái nghề mình đang làm, thậm chí cái ước mơ mình đang theo đuổi, đều là của cha mẹ, của xã hội, của con nhà người ta.”

“Đời sống không chân thật có cái giá của nó. Cái giá đó là trong tâm hồn chúng ta có một nỗi tuyệt vọng âm ỉ, một cảm giác trống rỗng mà không một bằng cấp nào, không một khoản tài chính nào, không một hợp đồng nào có thể lấp đầy được. Nó là cảm giác xa lạ với chính cuộc đời của mình, như một diễn viên đóng mãi một vở kịch mà mình không viết.”

Và Tiến sĩ dẫn Viktor Frankl với một đề nghị đảo ngược câu hỏi quen thuộc. Thay vì hỏi tôi muốn gì từ cuộc sống, hãy hỏi cuộc sống này đang muốn gì từ tôi.

“Câu hỏi đó biến chúng ta từ người đòi hỏi thành người đáp lời.”

Từ đó ông đưa ra định nghĩa của mình về thành công bền vững: đó không phải là leo cao hơn trên một chiếc thang mà người khác dựng sẵn, mà là trạng thái trong đó năng lực của ta, công việc của ta, và giá trị sâu thẳm nhất của ta cùng nằm trên một đường thẳng. Khi ấy, nỗ lực thôi không còn là việc vắt kiệt mình để chứng minh.

Ở cuối buổi, TS. Lê Nguyên Phương quay lại ví dụ minh hoạ một lần nữa, lần này để cho thấy chuyển hoá trông như thế nào trong đời thường.

Sau một tiến trình chuyển hoá thực sự, người phụ nữ ấy vẫn làm công việc cũ. Chị không bỏ hết mọi thứ để đi tu, cũng không sang một nước khác ở nửa năm. Chị vẫn gặp người cấp trên cũ, thỉnh thoảng vẫn nhận những lời góp ý. Nhưng bên trong đã khác.

Khi bị góp ý, tim chị vẫn đập nhanh hơn một chút, và chị gọi tên được nỗi sợ cũ. Nhưng chỉ bằng vài hơi thở, có khi không cần đến hơi thở nào, hệ thần kinh đã được huấn luyện đưa chị trở về vùng xanh rất nhanh. Chị trả lời bằng sự điềm tĩnh của một người không còn phải chứng minh giá trị của mình.

Chị vẫn làm việc chăm chỉ như trước, nhưng động cơ đã đổi. Trước kia chị chạy để trốn cảm giác không đủ tốt. Bây giờ chị làm vì tin rằng công việc của mình đáng giá, và tin rằng mình là một người đàng hoàng.

“Tôi rất thích chữ đàng hoàng. Bây giờ chữ đó ít nghe bố mẹ nói. Ăn nói cho đàng hoàng, mặc đồ cho đàng hoàng, đứng cho đàng hoàng, làm việc cho đàng hoàng, sống cho đàng hoàng.”

“Vẫn là cùng một cuộc đời. Nhưng bây giờ chị đã là một con người tự do hơn. Đó chính là sự khác biệt giữa thay đổi và chuyển hoá. Hoàn cảnh có thể chưa đổi, nhưng con người sống trong hoàn cảnh đó đã được tái sinh.”

TS. Lê Nguyên Phương kết thúc phần chia sẻ bằng một điều mà một người giới thiệu khoá học thường không nói ra.

“Khi tôi nói những chuyện này, dù cô đọng đến đâu, cũng chỉ có thể trao cho quý vị một tấm bản đồ. Nhưng bản đồ không phải là con đường. Không ai học bơi bằng cách nghe giảng về nước.”

Và theo ông, sự chuyển hoá thực sự đòi hỏi ba điều: thời gian đủ dài để não bộ và hệ thần kinh hình thành một đường nét mới, phương pháp đúng để nỗ lực không lạc hướng, và sự đồng hành để người ta không bỏ dở giữa đường.

Ở phần hỏi đáp, khi một bạn sinh viên năm tư nói rằng bạn đã ghi lại thời thơ ấu vào nhật ký và đã hiểu vì sao mình trì hoãn, mà vẫn không đổi được, Tiến sĩ trả lời bằng một hình ảnh khép lại toàn bộ buổi tối:

“Thấu hiểu, tức là ghi lại thành một sự kiện bằng những câu văn khái niệm, thì không có giá trị gì nhiều. Em biết thành phố New York có bao nhiêu dân, có bao nhiêu tên con đường, có bao nhiêu quán ăn. Mà cuối cùng chưa đặt chân tới New York thì cũng như không.”

“Hiểu chỉ là khởi đầu. Chuyển hoá mới là hành trình.”

Nếu bạn có mặt trong buổi tối hôm đó, hoặc chỉ vừa đọc đến đây, có một câu hỏi đáng để ngồi với trước khi đọc thêm bất cứ điều gì khác.

Trong bảy ngày vừa qua, có một việc quan trọng nào bạn đã lùi lại, hoặc một việc nào bạn đã nhảy vào làm ngay trong lúc đáng ra nên nghỉ? Lúc đó, trong thân thể bạn đang có gì?

Chưa cần làm gì thêm với câu trả lời. Chỉ cần thấy nó. Theo đúng điều TS. Lê Nguyên Phương nhấn mạnh trong buổi chuyên đề, chỗ quan trọng nhất nằm ở sự quan sát, không nằm ở việc giải thích thêm một lần nữa.

Tâm lý học Chuyển hoá [PTC] là chương trình do TS. Lê Nguyên Phương thiết kế và giảng dạy, hiện đã tới khoá 12. Chương trình đi trong 24 tuần qua 6 module, theo đúng thứ tự năm tầng đã trình bày trong bài này. Mỗi tuần có một chủ đề để đọc và thực hành, một bài phản tư để tập đọc lại chính mình, một buổi sinh hoạt nhóm nhỏ cùng Mentor, và sáu buổi trực tuyến trực tiếp cùng TS. Lê Nguyên Phương trong toàn khoá.

Thông tin chi tiết hai lộ trình: https://wiseducation.vn/ptc-t

Tâm lý học Chuyển hoá là chương trình giáo dục về tâm lý học ứng dụng, không phải chương trình điều trị.

Để đồng hành cùng những anh chị đã dành hai giờ buổi tối cho chính mình, WISEDUCATION gửi tặng voucher ưu đãi học phí 2.000.000 VND áp dụng cho chương trình Tâm lý học Chuyển hoá.

  • Giá trị voucher: 2.000.000 VND

  • Áp dụng cho: chương trình Tâm lý học Chuyển hoá (PTC)

  • Thời gian sử dụng: hai ngày, 01/08/2026 và 02/08/2026

  • Voucher không quy đổi thành tiền mặt

  • Voucher không được cộng gộp với các ưu đãi khác

Cách giữ ưu đãi khi anh chị cần thêm thời gian

Chúng tôi hiểu rằng quyết định đi một hành trình 24 tuần cần được cân nhắc, và hai ngày là ngắn.

Vì vậy, anh chị đặt cọc 2.000.000 VND trong hai ngày 01 và 02/08 là đã giữ được chỗ trong khoá 12 và giữ nguyên ưu đãi. Phần học phí còn lại anh chị hoàn tất trong 5 ngày kể từ ngày đặt cọc.

Nếu anh chị có điều kiện tài chính cần sắp xếp riêng, anh chị nói với cộng sự của chúng tôi. Chúng tôi sẽ cùng anh chị tìm một phương án thanh toán phù hợp.

Ghi danh và tư vấn

Anh chị để lại thông tin liên hệ tại https://wiseducation.vn/ptc-t để cộng sự của chúng tôi kết nối, tư vấn lộ trình phù hợp và hướng dẫn cách áp dụng voucher. Hoặc nhắn tin trực tiếp đến trang WISEDUCATION tại https://www.facebook.com/WISEDUCATION.official

Anh chị cần hỗ trợ nhanh, liên hệ một trong ba số sau: 085 5900286 - 096 8587908 - 0828.099.924 - các số đều có Zalo

WISEDUCATION.

Read the original on wiseducation.substack.com

Comments

Nothing yet. Say the first thing.

    Sign in to join the conversation.