(Tác giả: Linh Vũ. Bài đăng trên talawas năm 2006)
Trong cuốn Nghệ thuật tiểu thuyết, Milan Kundera có nhắc tới truyện Bay trên tổ chim cúc cu của Kent Kesey. Câu chuyện diễn ra ở một trại điên, nơi các bệnh nhân chịu đựng sự cai trị tàn nhẫn và xúc phạm nhân phẩm của mụ y tá trưởng. Khi nhân vật chính trong truyện tìm được cách giải phóng cho những người này thì ban đầu họ tỏ ra vui sướng. Nhưng chẳng mấy chốc, thái độ vui sướng ấy chuyển thành nỗi sợ hãi đối với tự do trong một thế giới mà họ không biết và không hiểu. Họ chọn cách ở lại với sự an toàn, nỗi sợ hãi và cả sự ty tiện được biết trước thay vì tự do và những trắc trở của nó. Kundera so sánh những bệnh nhân này với người dân của nước Nga, những người dường như lựa chọn chấp nhận trong hơn 70 năm chế độ toàn trị và cảnh sát “của mình” - một chế độ mà chính người Nga tự mỉa mai là “họ giả vờ trả lương cho chúng tôi và chúng tôi giả vờ làm việc” - hơn là tự do. Tất nhiên, lỗi không hoàn toàn là ở những người dân này. Nhiều kẻ trước khi vào trại điên vẫn hoàn toàn bình thường, còn người “tỉnh táo” và mạnh mẽ nhất trong trại điên của Kesey phải nhận lấy một kết cục bi thảm, bị biến thành một cái xác chết vật vờ sống thực vật. Trong bộ phim Có lẽ cũng không có gì đáng ngạc nhiên khi những người cộng sản tỏ ra rất thích câu nói của Marx “Tự do là nhận thức được sự tất yếu”, diễn đạt nôm na thì “tự do” là biết được vùng vẫy đến đâu trong sợi dây trói “tất yếu”. Tất nhiên, kẻ nào vùng vẫy mạnh quá, hoặc quá ngây thơ không nhận ra dây trói hoặc ngược lại, gọi đích danh nó là sợi dây trói thì chẳng sớm thì muộn, sẽ không còn cơ hội được hưởng “tự do” rồi! Hay nói theo kiểu chính trị viên, anh không xứng đáng được hưởng tự do vì anh không biết quý trọng tự do mà anh có được nhờ công ơn của abc. Sự giả dối, suy cho cùng vừa là hệ quả vừa là bạn song hành của sự hèn nhát và nỗi mặc cảm mà thôi. Nó sinh ra từ hèn nhát và mặc cảm và tồn tại để che giấu cho chúng. Hay sử dụng một định nghĩa từ của Kundera, thì nó là một sản phẩm Một chủ đề quan trọng mà Kafka đề cập tới là tội lỗi tưởng tượng. Một buổi sáng đẹp trời hay xấu trời nào đó, nhân vật Joseph K. trong tác phẩm
Nếu như Kafka nói tới tội lỗi mặc định của mỗi cá nhân thì Orwell nhắc tới sự lãng quên trong một xã hội phi cá nhân, nơi những ký ức bị nhào lặn và xuyên tạc. Lịch sử trở thành một công cụ của chính trị. Và khi người ta đánh mất lịch sử, khi ký ức không còn tồn tại nữa thì tất cả các cá nhân sẽ giống hệt nhau, tất cả các nền văn minh sẽ đều cùng một khuôn và mọi lời nói dối sẽ trở thành chân lý, hay nói chính xác hơn là người ta sẽ không còn hoài công tìm cách phân biệt lời nói dối với sự thật làm gì nữa. Hay hiểu như Descartes thì con người hiện đại sẽ chết đi vì lúc đó không còn có chuyện “tôi suy nghĩ là tôi tồn tại” nữa. Chính vì thế sự phản kháng của Winston trong tác phẩm K. của Kafka vẫn còn là một con người cá thể với những mục đích và ý nghĩ của riêng mình (tuy rằng anh luôn phải làm tình với vợ chưa cưới trước sự chứng kiến của hai gã giúp việc) nhưng tới George Orwell, con người cá nhân và sự riêng tư đã bị hoàn toàn triệt tiêu. Các nhân vật của Orwell cũng luôn cảm thấy có tội nhưng không chỉ có vậy, họ còn bị tước đoạt đi cảm xúc thật và suy nghĩ của riêng mình bằng những bài luyện tập kiểu Điều đáng sợ của một xã hội như vậy là gì? Là việc tất cả đều giả vờ: chúng tôi giả vờ làm việc và họ giả vờ trả lương. Đảng giả vờ là đại diện cho giai cấp vô sản và chúng tôi giả vờ là chúng tôi tin điều đó. Giống như thể một tấn hài kịch. Nhưng trong một tấn hài kịch trên sân khấu thì cả khán giả và diễn viên đều cười. Trong tấn hài kịch-cuộc sống này thì người ta không được phép cười và sự giả vờ đó cũng được coi (tất nhiên là theo một cách giả vờ) như điều thiêng liêng. Họ vẫn có thể dung thứ cho sự tồn tại của bạn nếu bạn căm ghét hay hờn dỗi họ (thậm chí bạn còn có thể trở thành một Cũng chẳng phải ngẫu nhiên mà những tác phẩm văn học “cười cợt” đích thực ở nước Nga chỉ dừng lại ở Bulgakov từ những năm 30. Và ở Việt Nam thì nền văn học “cười cợt” ấy cũng chấm dứt ở Vũ Trọng Phụng. Những nhà trào phúng không có chỗ trong một xã hội phi cá tính. Nguyễn Công Hoan, Tú Mỡ đều phải khoác một bộ mặt nghiêm túc nhất khi đi theo cách mạng. Và người Việt Nam đành phải cười cùng một nhà văn sống ở một nước tư sản là Azit Nesil. Ngay cả trong 20 năm gần đây, trong khi có rất nhiều chua cay, hờn giận, buồn tủi, đau thương tuôn trào trên các trang viết thì cũng không có người viết nào biết cười cợt cả, có chăng chỉ Nguyễn Việt Hà là tiến gần nhất tới một nụ cười. Thế mà sao cụ Nguyễn Văn Vĩnh từng bảo dân mình cái gì cũng cười được. Nhưng mà cũng đúng, vì cái gì cũng cười được nên không hiểu được ý nghĩa và sức mạnh của nụ cười và sự hài hước, nhất là hài hước đen - cái mà người Việt luôn thiếu. Trong chương Lời biện minh ấy có giả dối không? Không hoàn toàn là giả dối vì hình như y thực sự tin tưởng vào điều đó. Nhưng lý giải theo Orwell thì đó là
No posts

Comments
Nothing yet. Say the first thing.
Sign in to join the conversation.