RSS Amplifier

Quýt dịch tiểu luận · Jul 10, 2026

Về thú vui thù ghét

0
Sign in to vote or save

lan-anh nguyen · Quýt dịch tiểu luận

Bài dưới đây mình dịch từ bản gốc tiếng Anh. Nếu bạn muốn có thể đọc thẳng bản tiếng Anh mà không cần qua bản dịch, mình có lớp hướng dẫn nhé.

Tại lớp, bạn sẽ được hướng dẫn đọc những cuốn sách/ bài luận với chất lượng nội dung và văn phong xuất sắc như bài bạn chuẩn bị đọc dưới đây.

Thông tin lớp xem tại ĐÂY. Mình xin cảm ơn.

Giới thiệu sơ lược bài luận:

Bài luận bạn sắp đọc đây được xuất bản năm 1826, là một trong những tác phẩm sắc sảo và gai góc nhất thời Lãng mạn. Qua bài luận, Hazlitt muốn bày tỏ rằng khuynh hướng bẩm sinh của con người là tìm kiếm khoái cảm trong ác ý, thù hằn thay vì sự bình yên.

Bài luận ra đời sau thất bại của Napoleon tại trận Waterloo (1815). Khi này Hazlitt hoàn toàn tuyệt vọng trước sự sụp đổ của các lý tưởng tự do từ Cách mạng Pháp. Bầu không khí chính trị ngột ngạt, đàn áp tại Anh lúc bấy giờ đã dập tắt niềm tin của ông vào sự tiến bộ và tính thiện của nhân loại. Đây cũng là giai đoạn tăm tối với ông trên phương diện cá nhân. Ông bị những người bạn văn chương chí cốt từng chung lý tưởng (như Wordsworth và Coleridge) quay lưng, đồng thời gặp nhiều rắc rối lớn trong tình yêu và hôn nhân. Những biến cố này đã đẩy ông vào sự cô lập trầm trọng. Bài luận này cũng chạm tới những suy tư của ông về chính trị, tự do, và những nỗi đau trong tình bạn, tình yêu.

Mời bạn đọc bài nhé!

Về thú vui thù ghét

Có con nhện đang bò trên nền phòng trải chiếu tôi đang ngồi (chẳng phải con nhện từng được mượn làm phúng dụ rất khéo trong bài thơ Gửi Nhện tuyệt hay nọ, mà là một con khác cũng thuộc nòi hay gợi sự răn đời ấy). Nó cắm cổ chạy, hớt hơ hớt hải, nó bước vụng về tiến về phía tôi, rồi chợt khựng lại. Thấy cái bóng khổng lồ án ngữ trước mặt và luống cuống chẳng biết nên lui hay tới, nó bèn đăm đăm dò xét kẻ thù đồ sộ kia. Nhưng thấy tôi không chồm dậy vồ lấy kẻ lang bạt khốn cùng là nó - như cách nó vẫn vồ con ruồi xấu số sa lưới - nó bèn liều lĩnh bò tiếp với dáng vẻ ranh mãnh, xấc xược đan xen cùng nỗi sợ. Lúc nó đi ngang qua, tôi lật mép chiếu lên mở đường cho nó tẩu thoát, khấp khởi mừng vì tống khứ được vị khách không mời, thế nhưng dù nó đã đi khuất rồi, tôi vẫn rùng mình khi nhớ lại nó. Đổi lại nếu là một đứa trẻ, một người đàn bà, một gã hề hay một nhà đạo đức học của thế kỷ trước thì ắt hẳn đã giẫm bẹp dí con vật bé nhỏ ấy, còn triết lý của tôi thì đã vượt xa ngưỡng đó. Tôi chẳng mang ác tâm gì với sinh linh này, nhưng vẫn cứ ghét cay ghét đắng mỗi khi giáp mặt. Cái mầm ác ý vẫn dai dẳng tồn tại dẫu ta không cố ý thù ghét. Ta học được cách kìm hãm bản ngã và giữ cho hành xử bề ngoài nằm trong khuôn khổ đạo làm người, nhưng phải rất lâu sau ta mới có thể uốn nắn cảm xúc và trí tưởng tượng của mình thuận theo cùng một âm hưởng ôn hòa như thế. Ta từ bỏ sự phô trương bên ngoài hay thói bạo lực sỗ sàng, nhưng chẳng sao rũ bỏ được gốc rễ hay căn nguyên của thù hằn. Ta không đạp lên con vật tội nghiệp kia (làm thế nghe chừng tàn nhẫn và thảm thương quá!), nhưng ta lại dè chừng nó bằng một nỗi khiếp đảm huyễn hoặc hay cảm giác gớm ghiếc nhuốm màu mê tín. Chắc sẽ phải cần thêm hàng trăm năm nhọc công bút nghiên và ngẫm ngợi sâu xa nữa mới mong chữa khỏi cho ta căn bệnh thành kiến này, và khiến ta biết đối đãi với cái giống nòi mang điềm gở ấy bằng đôi chút “tình người dịu ngọt”, thay vì bằng chính sự lấm lét và nọc độc của chúng.

Càng nhìn sâu, ta càng thấy tự nhiên dường như được tạo nên từ những xung khắc: nếu không có thứ gì để ghét, ta ắt sẽ đánh mất ngọn nguồn của tư duy và hành động. Đời người sẽ hóa thành vũng nước ao tù nếu không bị khuấy động bởi những mâu thuẫn lợi ích hay những dục vọng ngang tàng của con người. Vệt sáng trong vận mệnh của ta toả rạng (hay chỉ đơn thuần bộc lộ rõ) là nhờ vạn vật xung quanh bị bôi đen đến mức tột cùng, cũng như dải cầu vồng tô bóng mình lên nền mây xám vậy. Đó là niềm kiêu hãnh? Hay là đố kị? Là sức mạnh của sự tương phản? Hay là sự hèn mọn và hiểm độc? Dẫu là gì đi nữa thì trong tâm trí con người vẫn luôn có một mối giao cảm thầm kín hướng về cái ác. Tâm trí ấy tìm thấy một khoái cảm ngang trái nhưng lại vô cùng đắc ý trong những trò tai quái, bởi đó là cội nguồn thỏa mãn chẳng bao giờ vơi cạn. Cái thiện thuần túy chẳng mấy chốc sẽ trở nên nhạt nhẽo, nó thèm sự đa dạng và sinh khí. Nỗi đau là một niềm cay đắng ngọt ngào, nó cũng đòi hỏi sự đa dạng và sinh khí ấy. Hễ được chiều chuộng quá trớn một chút thì tình yêu cũng hóa ra hờ hững và chán ghét: rốt cuộc chỉ có thù ghét là bất diệt. Chẳng phải ta vẫn thấy chân lý ấy hiện diện ở khắp mọi nơi sao? Loài vật hành hạ và cắn xé nhau không thương tiếc; lũ trẻ con giết ruồi làm vui; ai nấy đều xúm vào đọc những tin tai nạn hay phạm pháp trên báo như thể đó là phần tinh túy nhất của một chuyện đùa; cả thị trấn đổ xô đi xem một đám cháy, và đám đông bàng quan ấy chẳng vui sướng chút nào khi thấy ngọn lửa bị dập tắt. Lẽ ra dập lửa thì tốt hơn, nhưng làm thế lại bớt đi phần thú vị, và cảm xúc của ta hùa theo những dục vọng tối tăm thay vì nghe lời lý trí. Người ta chen chúc thành từng đám, hăm hở cuồng nhiệt để chứng kiến một vở bi kịch, nhưng như ông Burke từng nhận xét, nếu ở con phố bên cạnh đang có một vụ hành hình thì rạp hát ắt sẽ vắng tanh. Một con chó hoang trong làng, một thằng ngốc hay một mụ điên đều dễ dàng trở thành mồi ngon cho cả cộng đồng hùa vào trêu chọc và cấu xé. Xét bản chất thì những cái gai trong mắt công chúng lại là niềm vui của chính họ. Thử hỏi Đức Giáo hoàng, vương triều Bourbon và Tòa án Dị giáo đã khiến dân chúng nước Anh phải nín thở trong bao lâu và ban phát cho họ bao nhiêu cái biệt danh để họ tha hồ trút bầu uất hận! Mà gần đây thì những thế lực ấy đã gây ra cho ta mối họa hại gì? Chẳng gì cả! chỉ là trong bụng ta lúc nào cũng ứ đọng sẵn một mớ uất ức thừa thãi, và ta cần một điểm nhắm để trút giận lên. Ta đã nuối tiếc biết bao khi phải từ bỏ niềm tin ngoan đạo vào ma quỷ và phù thủy, chỉ bởi ta thích đi bức hại kẻ này, và mượn kẻ kia để tự dọa mình cho đến chết khiếp! Thứ làm ta bận tâm chẳng phải là bản chất mà là liều lượng của niềm vui thú: ta không thể chịu nổi cảnh ngộ thờ ơ và chán chường: tâm trí dường như ghê tởm sự trống rỗng y như cách mà trời đất xưa nay vẫn cự tuyệt khoảng không vậy. Ngay cả khi tinh thần thời đại (tức là sự tiến triển nhạy bén của trí tuệ trong nỗ lực gọt giũa những thói tật bẩm sinh) không còn dung túng cho ta biến những cơn hằn học và ương ngạnh thành hành động, ta vẫn cố gọi chúng về qua lời kể nhằm nuôi dưỡng trong trí tưởng tượng những con ngáo ộp thuở nào hay những bóng ma của nỗi khiếp sợ và thù hận. Ta đốt hình nộm Guy Fawkes, và trò la ó, đấm đá, hành hạ cái hình nhân tơi tả làm từ giẻ rách và rơm rạ ấy lại biến thành một dịp hội hè mỗi năm một lần ở khắp các làng quê nước Anh. Giờ đây những người theo Tân giáo và Công giáo chẳng còn thiêu sống nhau trên cọc nữa, nhưng ta lại đặt mua ấn bản mới của cuốn Sách về các Thánh tử đạo của Fox, và bí quyết thành công của những cuốn Tiểu thuyết xứ Scotland cũng y như vậy - chúng đưa ta về lại với những mối thâm thù, những cơn phẫn uất, cảnh tàn sát, nỗi kinh hoàng, tội ác và những màn báo thù của một thời đại và một dân tộc dã man, về lại với những định kiến thâm căn cố đế và lòng thù hận chết người của các giáo phái và phe cánh trong chính trị lẫn tôn giáo, của những thủ lĩnh và thị tộc tranh giành quyền lực qua chiến tranh và mưu đồ. Ta lần lượt nếm trải trọn vẹn sức mạnh của tinh thần thù hằn cùng với tất thảy bọn họ. Khi lật từng trang sách, ta vứt bỏ gông cùm của nền văn minh, vứt bỏ bức màn mỏng tang của tính người. “Cút đi, những lớp vỏ vay mượn kia!” Con thú hoang lại trỗi dậy thị uy bên trong ta, ta cảm thấy mình như loài thú săn mồi, và tựa như con chó săn giật mình nhổm dậy trong lúc ngủ rồi lao vào một cuộc rượt đuổi mộng tưởng, trái tim ta cũng bừng tỉnh ngay trong hang ổ nguyên thủy của nó, rồi cất lên một tiếng tru hoang dại đầy sung sướng vì được trả lại tự do cùng những thôi thúc vô pháp vô thiên một lần nữa. Ai nấy đều được mặc sức vẫy vùng hoặc sa ngã theo cách riêng của mình. Nơi đây chẳng có nhà tù panopticon của Jeremy Bentham, chẳng có mô hình hợp tác xã không tưởng của ông Owen (thứ mà Rob Roy1 ắt sẽ đạp đổ và rủa xả ngàn lần), cũng chẳng có những toan tính so đo thiệt hơn - ý chí tìm ngay đến cái đích của nó, tựa như dòng thác trên núi trút xuống vực sâu: điều tốt đẹp tột bậc nhất của mỗi cá nhân nằm ở việc giáng mọi tai ương có thể xuống đầu láng giềng - cái ý nghĩ ấy quyến rũ làm sao, và nó gảy trúng ngay một sợi dây đồng điệu trong mọi lồng ngực! Thế nên ngài Irving - vị mục sư lừng danh - mới có thể thổi bùng lại ngọn lửa địa ngục nguyên thủy, xưa cũ, tưởng chừng đã lụi tàn trên những lối đi của nhà thờ Caledonian, hệt như cách người ta dẫn nước thật từ dòng sông New River vào sân khấu Sadler’s Wells, mang lại niềm kinh ngạc và thích thú cho những khán giả của ông. Tuy tai hại, nhưng cũng thật hay ho khi được ngồi dòm xuống hố sâu Địa ngục, được chơi trò vọc lửa cùng diêm sinh (nó mang lại một cú giật mình nhói ran, một đòn búng đầy sống động cho những tâm hồn mong manh), và được nhìn ngắm ông Irving, tựa một gã khổng lồ Titan, với dáng vẻ dữ dằn và đen nhẻm như thể chính ông đang phải rèn ra những ngón đòn tra tấn cho mọi linh hồn bị đọa đày! Con người mới thực là một sinh vật kỳ lạ làm sao! Chẳng bằng lòng với việc dùng hết mưu kế để hành hạ và làm tổn thương đồng loại ở chốn này, “trên cái bãi đất cạn của thời gian,” nơi người ta tưởng chừng đã có quá đủ những xót xa, đớn đau, thất vọng, thống khổ, nước mắt, tiếng thở dài và những lời than vãn, gã cuồng tín còn lôi đồng loại lên tận đỉnh cao chót vót của giáo lý thần học để rồi xô hắn xuống vực thẳm lửa đỏ đã ngoác mồm chờ chực; cái ác tâm đầy suy tính của gã đòi hỏi một cõi vĩnh hằng để mặc sức trút cơn giận vô biên, và gã viện đến cả Đấng Toàn Năng để thực thi phán quyết tàn nhẫn ấy! Bọn ăn thịt người thiêu rụi kẻ thù rồi ăn thịt chúng trong tình bằng hữu, còn những vị giáo sĩ Cơ Đốc mang tiếng nhu mì, hễ ai khác đức tin với họ dẫu chỉ bằng đường tơ kẽ tóc, là họ đày tuột cả hồn lẫn xác người ta xuống đáy hỏa ngục, rồi mượn cớ làm vậy là vì vinh quang của Đức Chúa và ơn phước cho muôn loài! Cũng còn may là quyền lực của những kẻ như vậy lại chẳng ngang tầm với những gì họ muốn: thực ra, chính từ cảm giác yếu thế và bất lực trong việc kiểm soát suy nghĩ của kẻ khác, họ mới “làm dữ hơn cả mụ chằn” và dùng những lời đao to búa lớn cùng những bản án quái gở để dọa người ta phải ngoan ngoãn phục tùng.

Như một thứ khoáng vật độc hại, thú vui thù ghét ăn mòn cốt lõi của tôn giáo, biến nó thành nỗi uất ức thấu xương cùng thói mù quáng. Nó biến lòng ái quốc thành cái cớ để gieo rắc lửa đạn, bệnh dịch và đói khát sang những vùng đất khác; nó chẳng chừa lại cho đức hạnh điều gì ngoài tinh thần thích săm soi, cùng một sự dòm ngó tọc mạch, hẹp hòi và đố kỵ đối với hành động và động cơ của kẻ khác. Những giáo phái, tín ngưỡng hay giáo lý khác biệt trong tôn giáo rốt cuộc là gì ngoài những cái cớ được dựng lên để người ta hạch sách, cãi vã, cắn xé lẫn nhau, tựa như người ta dựng lên một tấm bia để nhắm bắn? Có ai cho rằng lòng ái quốc ở một người Anh lại đồng nghĩa với thiện ý hay cảm tình muốn phụng sự một người đồng bào khác chăng? Không đâu, nó chỉ đơn thuần là lòng căm thù người Pháp, hay cư dân của bất kỳ quốc gia nào mà ta tình cờ đang giao chiến lúc bấy giờ. Tình yêu đức hạnh liệu có nói lên khát khao muốn nhận ra và sửa chữa lỗi lầm của chính ta không? Không hề, nó chỉ mượn sự hà khắc độc địa nhất trước điểm yếu của người khác để khỏa lấp đi thói ngoan cố bám lấy những tật xấu của chính mình. Chân lý này hiện diện ở khắp mọi nơi. Nó bao trùm cả cái thiện lẫn cái ác: nếu nó khiến ta căm ghét thói ngu xuẩn thì nó cũng làm ta bất mãn chẳng kém trước những tài năng xuất chúng. Nếu nó khiến ta oán giận lỗi lầm của kẻ khác thì nó cũng xui ta nóng mắt trước sự phồn vinh của họ. Ta báo thù khi bị tổn thương, rồi lại báo đáp ân tình bằng thói bội bạc. Ngay cả những thiên vị hay tình cảm sâu đậm nhất của ta rồi cũng sớm muộn rẽ sang hướng ấy. “Thứ từng ngọt như mía lùi, thoắt cái đã đắng như mật cá”2; và tình yêu lẫn tình bạn đều tự tan chảy trong ngọn lửa của chính mình. Ta ghét bạn cũ, ta ghét sách cũ, ta ghét quan điểm cũ, và rốt cuộc, ta quay ra ghét chính bản thân mình.

Tôi để ý thấy, trong số những người mà tôi quen thân nhất thuở xưa, hiếm ai còn giữ được tình giao hảo như cũ, hay duy trì được một mối gắn bó vừa bền lâu lại vừa nồng hậu. Tôi từng biết hai hay ba hội bạn bè chí cốt - những kẻ gặp nhau tới “sáu ngày một tuần” - thế mà rồi cũng tan đàn xẻ nghé. Tôi đã cãi vã với hầu hết những người bạn cũ của mình (họ có thể đổ tại tính khí tôi tồi tệ, nhưng chính họ cũng cãi vã với nhau cơ mà). “Nhóm chơi bài whist” từng được Elia tán dương trong bức thư nổi danh gửi ngài Robert Southey (chợt nhớ ra, chính tôi cũng từng ca ngợi họ trong tập sách này), những người “suốt bao năm trời vẫn gọi Đô đốc Burney là bạn” giờ ra sao rồi? Họ đã tan tác cả, tựa như đợt tuyết của mùa đông năm ngoái. Vài người đã khuất, có kẻ chuyển đi xa, kẻ thì lướt qua nhau trên phố như người dưng nước lã, hoặc giả có dừng lại chào hỏi thì cũng lạnh nhạt bâng quơ và cố tìm cách dứt chuyện càng sớm càng tốt. Trong chúng tôi, kẻ thì phất lên giàu có, người lại sa sút bần hàn. Người kiếm được một chân trong Chính phủ, kẻ chen được một góc trên tờ báo Quarterly Review. Vài người trong số chúng tôi đã kiếm được chút danh tiếng ở đời, trong khi những người khác vẫn vô danh như cũ. Ta khinh khi người này, đố kị và vùi dập người khác. Thời thế đổi thay, ta chẳng thể nào gọi về những cảm xúc năm xưa, và thế là ta lảng tránh ánh nhìn, thấy bứt rứt khi phải chạm mặt những kẻ xui ta nhớ về sự kém cỏi của mình, buộc ta phải gồng mình vào một nỗ lực gắng gượng nhằm ra vẻ vồn vã - một thứ nỗ lực khiến chính ta ngượng ngập mà cũng chẳng thể nào bịp được những người bạn thuở xưa.

Tình bạn cũ chẳng khác nào món thịt hâm đi hâm lại, nguội ngắt, nhạt nhẽo và khó nuốt. Dạ dày ta biểu tình tống khứ chúng. Hoặc là sự giao du và thân thuộc triền miên sinh ra thói chán chường, khinh khỉnh, hoặc giả lúc gặp lại nhau sau một quãng thời gian xa cách, ta thấy đôi bên chẳng còn như xưa. Kẻ thì hóa ra quá khôn ngoan, người lại quá đỗi ngu ngốc so với ta; và ta tự hỏi sao trước kia mình không nhận ra. Ta thấy hoang mang và lúc nào cũng nơm nớp lo sợ tài trí của người này, hoặc chán ngấy trước sự tẻ nhạt của người kia. Những nét hay ho của kẻ thứ nhất (bên cạnh những tàn dư còn vương vít lại) cứ lặp đi lặp lại rồi cũng trở nên cũ rích, mất đi hiệu ứng bất ngờ; còn sự vô vị của kẻ thứ hai thì trở nên không sao chịu đựng nổi. Một người bạn dẫu thú vị hay bổ ích đến mấy thì rốt cuộc cũng giống như cuốn sách ta hằng tâm đắc, đọc mãi rồi cũng đến lúc ta muốn cất lên giá. Thế nhưng bạn bè ta thì nào có chịu nằm im trên giá sách, và thế là sinh ra hiểu lầm cùng hiềm khích đôi bên. Hoặc giả, nếu lòng nhiệt thành và sự trong sáng của tình bạn vẫn chưa hề suy suyển, hay chặng đường thâm giao chẳng vấp phải chướng ngại nào nảy sinh, ta lại đi tìm những cớ khác để mà phàn nàn, những cội nguồn khác để mà bất mãn. Ta bắt đầu chỉ trích từ cách ăn mặc, vẻ bề ngoài cho đến tính cách của nhau. “Gã này chơi được đấy, nhưng phải nỗi cứ hay lê la đến khuya quá!” Kẻ khác thì lỗi hẹn, và thế là thành một vết thương chẳng bao giờ lành. Ta làm quen được với vài gã thanh niên tân thời, hay có được một cô nhân tình, ta bèn có ý giới thiệu bạn mình cho họ. Ngặt nỗi bạn ta lại vụng về, luộm thuộm, cuộc gặp gỡ đâm ra vô duyên, và điều đó dội một gáo nước lạnh vào mối giao tình. Hoặc giả, bạn ta vấp phải sự chướng mắt của thiên hạ, thế là ta bèn thu mình lại, viện cớ tự bất đồng quan điểm để trốn tránh việc đứng ra bênh vực. Một vài hay tất thảy những nguyên nhân ấy cứ theo thời gian tích tụ lại thành nền tảng của sự lạnh nhạt hay bực dọc ngấm ngầm, để rồi cuối cùng bùng nổ thành cuộc xô xát công khai. Nó như một phương thức bù đắp duy nhất mà ta có thể tự làm cho bản thân sau quãng thời gian dài kìm nén, hay như một cách tiện lợi nhất nhằm rũ bỏ những ký ức về tình nghĩa thuở trước vốn chẳng còn ăn nhập gì với cảm xúc của ta lúc này. Ta có thể xử lý vết thương hay cố chắp vá lại cái xác của một tình bạn đã lìa đời; nhưng vết thương nọ nào chịu để cho ta đụng chạm, còn cái xác kia thì đâu bõ công ướp lại làm gì! Cách duy nhất để làm hòa với bạn cũ là dứt tình với họ vĩnh viễn: ở một khoảng cách xa xôi, may ra ta còn được ném trả lại (trong một cơn mộng ban ngày) về với những thuở xa xưa cùng những xúc cảm dĩ vãng. Dù gì đi nữa, ta cũng chớ màng tới chuyện hâm nóng lại sự thân mật, cho đến khi đôi bên đã nhổ toẹt hết nỗi uất ức, hay đã nói, đã nghĩ, đã cảm nhận đủ mọi điều tồi tệ nhất về nhau. Hoặc nếu ta có thể kiếm cớ sinh sự với một kẻ thứ ba nào đó rồi biến hắn thành con dê tế thần, thì đây quả là một diệu kế để chữa lành khúc xương gãy. Tôi nghĩ rằng mình sẽ phải làm bạn lại với ngài Lamb thôi, bởi ông ấy vừa mới thảo một bức thư vô cùng cao thượng gửi cho Southey, và thẳng thừng dạy cho ông ta một bài học ra trò! Chẳng rõ điều gì đã gắn bó tôi với H— nhiều đến thế, ngoại trừ việc cứ mỗi bận gặp nhau, ông ấy và tôi lại ngồi phán xét một hội bạn cũ khác, rồi “xả thịt bọn họ như dọn mâm cỗ dâng thần linh”. Nơi đó có L— H—, có John Scott, có bà [——] - người sở hữu mái tóc đen nhánh tựa cánh quạ làm thành một bức phông nền đẹp như tranh cho câu chuyện của chúng tôi, có B— nay đã phát tướng và nghe đâu đã lập gia đình, rồi cả R—. Ngần ấy người đã chia ly từ lâu, và những thói hư tật xấu của họ chính là sợi dây chung duy nhất kết nối chúng tôi lại với nhau. Chúng tôi chẳng vờ vịt xót thương hay than vãn về những chuyện xuẩn ngốc của họ; chúng tôi tận hưởng chúng, cười cợt chúng đến đau cả ruột, “cười liên tu bất tận hết canh này qua giờ khác.” Chúng tôi dọn ra cả một mâm những giai thoại, tính khí, những nét tính cách đặc trưng, rồi thì chặt, thì băm cho đến khi mệt lử mới thôi. Có khi vài người trong số họ cũng đang làm thế với chúng tôi cũng nên. Về phần mình, như tôi từng nói, tôi càng quý một người bạn hơn khi kẻ đó có những lầm lỗi để ta còn có cái mà lôi ra bàn tán. Bà [——] bảo: “Nếu vậy thì ông sẽ chẳng còn là một người yêu thương nhân loại nữa đâu!” Những người bị đem lên thớt ấy vốn đều là bậc tinh hoa của thời đại, chẳng phải hạng “vô danh tiểu tốt”, và tính ra chúng tôi đã phán xét họ cực kỳ công tâm: nhưng cũng may khi họ không nghe thấy những gì chúng tôi đôi lúc vẫn nói về họ. Tôi chẳng mấy bận tâm thiên hạ đàm tiếu gì về mình, nhất là khi họ nói sau lưng và nói theo kiểu mổ xẻ phân tích. Nhưng nếu người ta nhìn tôi bằng ánh nhìn dè bỉu và khinh khỉnh, tôi sẽ dùng thứ nọc độc cay nghiệt nhất từ ngòi bút của mình để đáp trả. Nét mặt làm tôi tổn thương nhiều hơn là lời nói. Nếu có lúc nào đó tôi trót hiểu lầm nét mặt ấy, hay lỡ dùng tới nọc độc ngòi bút này ở nơi không đáng dùng, tôi xin nhận lỗi. Nhưng khuôn mặt bị cái vẻ khinh khỉnh ấy phủ lên lại quá đỗi tinh tế, còn tôi thì đã quá già để mà có thể hiểu lầm được nó!... Thi thoảng tôi lại ghé chơi nhà ——, và lần nào ghé xong cũng tự nhủ sẽ chẳng bao giờ quay lại nữa. Tôi không còn thấy sự đón tiếp dung dị thuở xưa. Bóng ma của tình bạn chực sẵn tôi ở bậu cửa, rồi chễm chệ ngồi cùng tôi suốt bữa ăn tối. Họ nay đã sắm cho mình một rổ những quan điểm chau chuốt cùng mớ bằng hữu mới. Nhắc chuyện xưa cũ thì bị coi là vụn vặt, mà động chạm đến những chủ đề bao quát hơn thì cũng chẳng mấy an toàn. M. không còn mở miệng ra dăm ba phút lại buông một câu “Fawcett từng nói” như thuở trước nữa. Cái chủ đề ấy đã mòn vẹt rồi. Các cô con gái thì đã lớn cả và có bao nhiêu thành tựu. Tôi lờ mờ nhận ra một sự đố kỵ từ cả đôi bên. Họ cho rằng tôi làm phách, và tôi cũng nghĩ y hệt thế về họ. Cứ mỗi bận bị hỏi “Ông không thấy ngài Washington Irving viết lách rất tài hoa sao?” là tôi lại tự nhủ sẽ không bao giờ mò đến nữa cho tới khi nhận được thiệp mời dự lễ Giáng sinh cùng ngài Liston. Mối giao tình duy nhất mà tôi thấy chẳng bao giờ nao núng hay phai nhạt là mối thâm giao thuần túy về mặt trí tuệ. Nơi đó chẳng có những lời rao giảng về sự thẳng thắn, chẳng có tiếng rên rỉ của thứ tình cảm sướt mướt. Những người quen chung của chúng tôi chỉ đơn thuần là chủ đề của cuộc trò chuyện và tri thức, không phải của tình thương mến. Khi đem họ ra mổ xẻ, chúng tôi coi họ chẳng khác nào “lũ chuột nhắt trong bình hút chân không”, hay hệt như những gã tử tù, hễ vừa rũ xác trên giá treo cổ là đã bị lôi xuống để cho lưỡi dao giải phẫu xẻ thịt. Chúng tôi chẳng nể nang bạn hay thù. Chúng tôi tế sống những nhược điểm của con người trên bàn thờ chân lý. Sau khi bị ép kiệt mọi tinh túy, những bộ xương khô của tính cách ấy cứ lủng lẳng giữa không trung như lũ ruồi mắc kẹt trong mạng nhện, hoặc được ngâm vào thứ axit hảo hạng để giữ lại chờ ngày thẩm tra. Lối chứng minh ấy vừa đẹp đẽ lại vừa mới mẻ. Chẳng bao giờ có chuyện bội thực mật đắng: không thứ gì giữ được lâu bằng bát thuốc sắc rặt những uất ức hằn học. Ta rồi cũng chán mọi thứ trên đời, chỉ trừ việc lôi kẻ khác ra làm trò cười và tự chúc tụng bản thân trên những khuyết điểm của họ.

Cũng vì lẽ đó mà sau một bận, ta đâm ra ghét những cuốn sách mình từng hằng tâm đắc. Đâu ai có thể đọc đi đọc lại mãi một tác phẩm. Dẫu có kết duyên với Nữ thần Thi ca đi chăng nữa thì tuần trăng mật của ta rồi cũng phải đến hồi kết, và kéo theo sau đó là sự hờ hững, nếu không muốn nói là nỗi chán chường. Có những tác phẩm, đúng thực là nhờ sự mới mẻ và táo bạo trong đường nét mà tạo được những ấn tượng bùng nổ ngay từ phút ban đầu, nhưng ta chẳng thể nào nhai nổi đến lần thứ hai. Lại có những cuốn kém bề hào nhoáng hơn, dù biết cách khơi gợi và đền đáp sự chú ý của ta bằng độ tinh tế tột bậc trong tiểu tiết, rốt cuộc cũng chẳng đủ sức lôi cuốn để giữ cho ngọn lửa say mê của ta mãi cháy. Danh tiếng của những nhà văn lỗi lạc nhất lại chính là thứ làm ta đâm ra ngán ngẩm họ - bởi những lời xưng tụng sáo rỗng và những trò lu loa vây quanh họ, bởi việc phải nghe người ta nhai đi nhai lại tên tuổi của họ, và bởi hàng bầy những kẻ hâm mộ vô tri theo phong trào mà họ kéo theo sau. Mặt khác, ta cũng chẳng hề mặn mà với việc cất công đi khai quật những nhà văn đang chịu cảnh vô danh oan uổng, chỉ vì sợ bị dị nghị rằng mình đang làm màu hay cố tình chơi ngông để ra vẻ khác người. Chẳng còn gì để bàn luận về một tác giả mà cả thế giới đã biết rõ, nhưng việc đi tiến cử một người mà chưa ai từng nghe danh cũng là một nỗ lực vô vọng và bạc bẽo chẳng kém. Suy tôn Shakespeare thành vị thánh để phụng thờ nghe chừng giống như một kiểu định kiến tự tôn dân tộc tầm thường, còn lôi xuống một cuốn của Chaucer, của Spenser, của Beaumont và Fletcher, hay của Ford hoặc Marlowe thì lại sặc mùi khoe chữ và kiêu ngạo. Tôi thú thực, cảnh tượng những kiệt tác nhường này “trôi vào cõi hoang phế của thời gian” khiến tôi đâm ra căm ghét hai chữ Danh vọng và Thiên tài, trong khi những kẻ ngốc hết thế hệ đến thế hệ khác mải mê cắm đầu vào mớ rác rưởi đương thời, còn các quý bà thời thượng cùng đám hầu phòng nghiêm túc bàn tán xem trong hai cuốn Thiên đường Đã mất hay cuốn Tình yêu của các Thiên thần của ngài Moore thì cuốn nào đáng chuộng hơn. Hôm nọ bước vào một cửa tiệm, tôi đã lấy làm khoái chí khi hỏi “Liệu tiệm có cuốn tiểu thuyết xứ Scotland nào không?” để rồi được đáp lại rằng: “Chúng tôi vừa bán cuốn cuối cùng rồi thưa ngài, cuốn Ngài Andrew Wylie!” Hẳn ngài Galt cũng sẽ phổng mũi với câu trả lời này! Tiếng tăm của vài cuốn sách thì còn non nớt và chưa tỏ mặt, số khác thì đã mục nát mốc meo. Cớ sao ta phải trao gửi tình cảm vào một thứ mà chính ta chẳng thể tự thuyết phục mình tin tưởng, hoặc thứ thiên hạ đã thôi bận lòng từ lâu? Tôi cứ nửa ngại ngùng chẳng dám lật giở lại cuốn Tom Jones, e rằng nó sẽ chẳng còn đáp ứng được kỳ vọng của tôi ở cái thời này nữa, mà nếu quả thực vậy, ắt hẳn tôi sẽ ném phăng nó vào lò sưởi và chẳng thèm ngó ngàng tới bất kỳ một cuốn tiểu thuyết nào khác trong suốt phần đời còn lại. Nhưng hẳn người ta sẽ vặn lại rằng: phải có những tác phẩm tựa như tạo hóa, chẳng bao giờ cũ đi, lúc nào cũng đủ sức lay động trí tưởng tượng lẫn những đam mê của con người chứ! Hoặc hẳn phải có những đoạn văn mà ta có thể nghiền ngẫm cả đời không chán, chẳng bao giờ ngưng khơi lên những xúc cảm yêu thương hay lòng ngưỡng mộ - chúng trở thành những tuyệt tác người người tâm đắc, và ta si mê chúng đến độ lú lẫn. Dưới đây là một đoạn như vậy:

Tựa hiên song,

Dệt tâm tư lên vuông vải,

Ngỡ thần linh vừa qua ngưỡng cửa nhà,

Nào ngờ đâu, người đó chính là chàng.

Máu dâng trào rồi thoắt cái tái tê,

Gấp gáp tựa hơi thở hắt;

Rồi luống cuống em bị gọi ra tiếp đón:

Chưa kẻ nào từ lều cỏ bước lên ngai,

Mà tâm tưởng lại bay bổng tột cùng đến thế!

Chàng trao một nụ hôn lên môi em,

Nụ hôn em nguyện giấu làm của riêng mãi mãi.

Em đã nghe giọng chàng cất tiếng,

Còn du dương hơn vạn khúc ca tình!3

Quả thực, một đoạn thơ như thế đọng lại trên môi thứ dư vị như mật hoa, và lúc cất tiếng đọc, ta ngỡ như đang được chung mâm vàng với các vị thần linh. Nhưng nếu ta ngâm ngợi nó mãi trong tâm trạng tầm thường, nó sẽ bay hết hương vị, hóa ra nhạt nhẽo, “rượu thi ca cạn sạch, chỉ còn rặt những cặn bã mà thôi”. Mặt khác, nếu ta cậy nhờ bầu không khí của những hoàn cảnh thú vị để điểm tô cho nó, chẳng hạn như ngâm cho một người bạn nghe, hay sau lúc cõi lòng đã chan chứa xúc cảm nhờ một chuyến tản bộ dài giữa quang cảnh hữu tình nào đó, hay khi ta…

...đùa chơi cùng nàng Amaryllis dưới bóng cây râm mát,

Hay vờn quanh suối tóc mây vương vấn của nàng Neaera…4

...thì sau đó, ta lại thấy thiêu thiếu cái cảnh ngộ đã đi liền với khúc ca. Và thay vì gửi gắm ký ức ấy vào một miền tươi sáng, ta lại đi nuối tiếc những gì đã đánh mất, rồi hoài công níu kéo “thời khắc một đi không trở lại” - có đôi khi còn ngẩn ngơ tự hỏi làm sao ta vượt qua được nỗi mất mát ấy, và thảng thốt trước cái khoảng trống sầu muộn rớt lại phía sau! Cảm giác đê mê vút lên đến tột đỉnh trong một sát na của tĩnh lặng cô liêu hay của sự đồng điệu say đắm, để rồi từ đó cứ thế tụt dốc không phanh. Và bởi ta cứ mải so đo rồi ý thức được sự sa sút ấy, rốt cuộc nó chỉ để lại đằng sau một niềm ngao ngán và bức bối… “Liệu với hội họa thì có thế chăng?” Thú thực là có đấy, với tất thảy, chỉ trừ những bức từ nét cọ của Titian. Chẳng hiểu tại sao nhưng vắt ngang qua những bức phong cảnh của ông luôn là một hơi thở thanh khiết, mát lành, như thể trôi về từ những năm tháng xa xăm nào đó; và trên những gương mặt ông họa nên luôn hiện diện một vẻ gì đó chẳng bao giờ phai dấu. Mới hôm nọ tôi vừa chiêm ngưỡng một bức. Giữa cảnh hoang tàn vô hồn cùng những nét hào nhoáng lấp lánh của tu viện Fonthill là một bộ sưu tập họa phẩm của Phòng tranh Dresden. Tập tranh mở ra, và gương mặt một thiếu nữ từ đó khẽ ngước nhìn, cô mang dáng dấp một đứa trẻ nhưng cũng có nét đằm thắm đàn bà, toát lên vẻ ngây thơ đồng nội mà vẫn có nét phong thái kiêu sa của một nàng công chúa. Đôi mắt nàng hiền hòa tựa mắt bồ câu, làn môi khẽ hé, nụ cười say đắm làm bừng sáng gương mặt, những viên ngọc lấp lánh cài trên mái tóc gợn sóng, vóc dáng xuân thì của nàng nép trong một bộ xiêm y cổ kính đài các, tựa những mầm lá ấp lấy búp non nảy lộc lúc tháng Tư! Cớ sao tôi không gọi về hình bóng dịu dàng đằm thắm ấy, và đặt nó làm một bức bình phong vĩnh viễn che chắn cho mình khỏi những nỗi trái ngang? Ấy là bởi để dung dưỡng niềm vui, tâm trí ta phải nhọc nhằn hơn nhiều so với khi ôm ấp nỗi đau, và thế là, chỉ sau một thoáng vui vầy bâng quơ với những điều ta mến chuộng, ta lại quay ngoắt về với những thứ ta căm ghét!

Còn những quan điểm ngày trước, tôi thực tình đã chán ngấy. Tôi có lý do của mình: chúng đã lừa dối tôi thê thảm. Người ta từng dạy tôi - và tôi cũng từng sẵn lòng tin - rằng thiên tài chẳng phải là món hàng để bán rẻ, rằng đức hạnh chẳng phải là một chiếc mặt nạ, tự do chẳng phải là một cái danh hão, và tình yêu thực sự có chỗ đứng trong trái tim con người. Giờ đây tôi chẳng màng nếu những từ ấy có bị gạch bỏ hoàn toàn khỏi từ điển, hay giá như tôi chưa từng nghe thấy chúng. Bên tai tôi, chúng nay chỉ còn là một trò nhạo báng và một giấc mộng hão huyền. Thay vì những người ái quốc và những người bạn của tự do, tôi chẳng thấy gì ngoài những kẻ bạo chúa và đám nô lệ, thấy dân chúng hùa cùng các bậc quân vương để tự gông xiết thêm những sợi xích của thói chuyên quyền và lòng mê tín. Tôi thấy sự ngu xuẩn hùa cùng thói xảo trá, để rồi cùng nhau nhào nặn nên cái gọi là tinh thần và dư luận công chúng. Tôi thấy những kẻ Tory xấc xược, những nhà Cải cách mù quáng, và những tay Whig hèn nhát! Nếu nhân loại thực sự khao khát lẽ phải, họ ắt đã có được nó từ lâu rồi. Lý lẽ thì đã quá rõ ràng, nhưng người ta lại hay làm càn, “chối bỏ mọi việc thiện lương”. Tôi từng chứng kiến những gì được dựng nên bởi những khát khao mãnh liệt của tinh thần và trí tuệ con người - “những người mà thế gian này không xứng đáng có được” - những thứ từng hứa hẹn mở ra chân trời đầy tự hào của chân lý và cái thiện xuyên suốt những năm tháng tương lai, nay lại bị phá huỷ bởi một kẻ duy nhất. Kẻ đó chỉ có chút ánh sáng leo lét của thứ nhận thức vừa đủ để thấy mình là một ông vua, nhưng lại chẳng tài nào hiểu nổi làm sao để làm vua của một dân tộc tự do! Tôi từng thấy chiến thắng này được suy tôn bởi những thi sĩ, những người bạn thời trai trẻ của tôi và những người bạn của nhân loại, nhưng rồi chính họ lại bị cuốn phăng đi bởi cơn thủy triều cuồng nộ xuất phát từ ngai vàng - nó đã cuốn trôi mọi ranh giới của lẽ phải. Tôi cũng từng thấy tất cả những ai không chịu hùa vào vỗ tay tâng bốc sự xúc phạm và bạo hành nhắm vào nhân loại này bị bài xích, bị săn lùng (họ và bạn bè họ trở thành trò cười cho thiên hạ), đến mức nghiễm nhiên hình thành một luật bất thành văn rằng: chẳng ai có thể sống bằng tài năng hay tri thức của mình nếu kẻ đó không sẵn sàng đem bán rẻ cái tài năng và tri thức ấy để phản bội lại giống loài, và biến đồng loại thành con mồi. “Điều này từng có thời là một bí ẩn, nhưng thời gian đã đưa ra minh chứng rõ ràng”. Tiếng vọng tự do từng thức tỉnh một lần nữa ở Tây Ban Nha, và bình minh của hy vọng nhân loại lại ló rạng: nhưng ánh bình minh ấy đã bị phủ mây đen bởi hơi thở hôi hám của thói mù quáng, và những âm thanh hồi sinh nọ lại bị bóp nghẹt bởi những tiếng la hét mới phát ra từ những ngọn tháp nứt nẻ vì thời gian của Tòa án Dị giáo. Con người ta đầu hàng (như một lẽ tất yếu) trước tiên là sức mạnh bạo tàn, nhưng phần nhiều hơn là trước sự ngoan cố bẩm sinh và tinh thần hèn mạt của chính bản ngã mình, chẳng chừa lại khoảng trống nào cho hy vọng hay thất vọng thêm nữa. Và nước Anh - nhà cải cách tiên phong ấy, vị cứu tinh anh hùng ấy, kẻ luôn rao giảng về tự do và công cụ quyền lực ấy - nay lại há hốc mồm đứng nhìn, chẳng hề cảm nhận thấy thứ nấm mốc và mầm bệnh đang bao phủ lấy mình, cũng chẳng thấy xương tủy mình đang vỡ vụn và nát bấy dưới nanh vuốt và những vòng xiết của một con quái vật mới mang tên Tính Chính Danh! Trong đời tư, chẳng phải ta vẫn thấy thói đạo đức giả, quỵ lụy, ích kỷ, xuẩn ngốc và xấc xược thành công sao, trong khi sự khiêm nhường thì thu mình lại, còn thực tài thì bị chà đạp dưới chân? Đã bao bận “đóa hồng bị bứt khỏi vầng trán của tình yêu đoan chính, để cấy vào đó một vết nhơ lở loét”! Đam mê chân thực thì có cơ may nào thành công? Có gì chắc chắn nó sẽ lâu bền? Chứng kiến tất thảy những điều ấy như tôi đang thấy, và gỡ từng sợi tơ của mạng nhện kiếp người để nhìn thấu những ngọn nguồn của thói ti tiện, ác ý, hèn nhát, của sự vô cảm và vô minh, của thái độ thờ ơ với kẻ khác và sự mù quáng trước chính mình - thấy những lề thói tầm thường chiến thắng mọi điều xuất chúng, để rồi chính nó lại nhượng bộ trước những điều bỉ ổi - thấy mình đã lầm lạc nhường nào trong cả những hy vọng chung lẫn riêng, lấy bụng ta suy ra bụng người để rồi tính toán sai bét, luôn chuốc lấy thất vọng ở chính nơi mình đặt nhiều niềm tin nhất, trở thành kẻ bị tình bạn lừa gạt, và hóa ra một gã ngốc của tình yêu - thử hỏi tôi không có lý do để căm ghét và khinh rẻ chính mình sao? Thực tình là có đấy, và nguyên do cốt yếu là bởi tôi đã chưa căm ghét và khinh rẻ cái thế gian này cho đủ mà thôi.

1

Rob Roy là một kẻ sống ngoài vòng pháp luật với mái tóc đỏ. Hắn trở thành nguồn cảm hứng cho tiểu thuyết kinh điển Rob Roy của Sir Walter Scott xuất bản năm 1817.

2

Câu này khởi nguồn từ vở kịch Othello của Shakespeare. Câu gốc trong vở kịch: “The food that to him now is as luscious as locusts shall be to him shortly as bitter as coloquintida.”

3

Trích đoạn The Story of Bellario nằm trong vở kịch Philaster của bộ đôi tác giả Francis Beaumont và John Fletcher.

4

Trích từ bài thơ Lycidas của John Milton

No posts

Read the original on quytshortstory.substack.com

Comments

Nothing yet. Say the first thing.

    Sign in to join the conversation.