“Nó làm cho người gần người hơn.” - Nam Cao
Chiều cuối tháng Tư năm 1956, hàng chục ngàn người ngồi chật sân bóng rổ của Đại học Minnesota để nghe một ông già nói chuyện. T. S. Eliot hôm ấy đọc Những biên cương của phê bình, một bài khảo luận về nghề phê bình, thứ đề tài mà chính các giáo sư văn khoa cũng chưa chắc theo nổi từ đầu đến cuối. Nhà trường phát ra mười sáu ngàn vé. Về sau có người nói là mười bốn ngàn, Eliot chữa lại: không, mười ba ngàn năm trăm hai mươi ba. Người ta chỉ đếm kỹ đến thế những gì người ta trân quý.
Trong trụ sở của Intercollegiate Studies Institute có treo một tấm ảnh đen trắng đề ngày 14 tháng Mười Một 1962: đó là lòng sân vận động Đại học Detroit, chín ngàn chỗ không còn một ghế trống, và dưới đáy cái khối người ấy phía sau bục gỗ, Robert Frost tóc trắng đứng đọc thơ một mình. Mười tuần sau ông qua đời. Mark Bauerlein trông thấy tấm ảnh ấy trên tường, và tôi ngờ rằng cuốn sách ông viết đã thành hình từ khoảnh khắc ông đứng lại trước nó: một nước Mỹ từng chật kín sân vận động vì một bài giảng, nay ông phải viết sách mà than khóc.
Một buổi tối tháng Năm năm 2021, hơn hai trăm ngàn người Việt Nam cùng một lúc theo dõi một buổi livestream trên trang cá nhân của một nữ doanh nhân; cộng cả ba kênh phát cùng đêm, báo chí ghi nhận con số ngót nửa triệu. Đó là kỷ lục quốc gia của thể loại, đến nay chưa dễ để ai phá.
Hai con số ấy, mười ba ngàn của Minnesota và nửa triệu của chúng ta, gợi ra một câu hỏi: cái gì lấp đầy một đấu trường thì cái đó cho biết một nền công luận đang đói món gì. Than thở là việc dễ; câu hỏi kia thì khó hơn nhiều.
Cuốn sách được giới thiệu hôm nay là The Dumbest Generation Grows Up, phần tiếp của lời tiên tri mà Bauerlein đã đặt ra từ 2008 và chẳng mấy ai buồn nghe: rằng cứ để trẻ con buông sách mà ôm màn hình, mười lăm năm nữa nước Mỹ sẽ thu lại một lũ người lớn bất an, cả giận, và không biết mình từ đâu tới. Sách bán ở Mỹ như một quả đạn trong cuộc nội chiến văn hóa của họ, bìa sau xếp đầy những tên tuổi phe bảo thủ. Cái đáng tiền nằm ở chương bốn, trong một cuộc điện thoại. Bauerlein hỏi người bạn học cũ, một giáo sư ở Winnipeg, rằng vì đâu mà sinh viên thời nay cứ hễ nghe một ý trái tai là coi như bị hành hung. Ông bạn ấy, nay đã là người thiên cổ, đưa ra một câu trả lời: chúng nó chưa đọc đủ văn chương.
Câu nói ấy khi đặt giữa nước Mỹ, là một lời trách móc. Đặt giữa nước ta, tôi e nó là một lời tiên tri ngược: người Mỹ đã có một kho tàng mà từ bỏ nó. Còn chúng ta, khoan hẵng hỏi thế hệ trẻ có bỏ đọc hay không, phải hỏi trước đã: chúng ta đã kịp trao cho họ cái kho tàng nào chưa?
Cái tài của Bauerlein là ông không vội tin bạn mình. Ông kể lại bốn lời giải mà một người am tường thời cuộc ắt sẽ đưa ra, và người bạn kia thừa sức đưa ra: rằng lũ trẻ bị nhồi chính trị phải đạo (political correctness) từ thuở vỡ lòng; rằng cuộc cạnh tranh vào đại học đã mài mòn chúng thành những kẻ da mỏng; rằng lối sư phạm nâng niu lòng tự tôn đã dạy chúng xem mỗi cuộc tranh luận là một vụ hành hung; rằng các giáo sư thiên tả đã tập cho chúng khinh một nửa còn lại của nước Mỹ. Bốn lời giải ấy đều hợp lý, đều có sách vở chống lưng, và ông bạn gạt đi cả thảy. Ông nói rằng chỗ thiếu của lũ trẻ không nằm trong chính kiến; nó nằm bên dưới cả chính kiến. Một cuốn tiểu thuyết hay là một pho tâm lý học hay. Nhân vật có động cơ, và anh phải tự dò lấy.
Dò lấy - cái chữ đáng cả một chương trình giáo dục. Tiểu thuyết tâm lý, thứ máy móc tinh xảo mà văn minh Âu châu mất hai trăm năm chế tạo, không dạy người đọc điều gì cả nếu đặt vào bối cảnh giáo dục tại nhà trường: nó bắt người đọc làm một điều, ở lì trong ý thức của một kẻ xa lạ, dò dẫm động cơ của y qua từng lớp sương, và chịu đựng cái điều mà E. M. Forster gọi là tính bất khả lượng của đời sống. Forster chia nhân vật làm hai hạng, phẳng (flat) và tròn (round): hạng phẳng được đúc quanh một ý duy nhất, gặp là nhận ra, nhận ra là hết; hạng tròn thì như người thật, nghĩa là có thể làm ta chưng hửng. Ai đọc đủ lâu thì cái nết dò dẫm ấy ngấm vào bản thân: đọc một vụ phản bội được viết đến nơi, anh không dừng ở chỗ hiểu sự phản bội; anh trải nghiệm nó từ cả hai phía, từ kẻ mưu phản đến kẻ bị phản. Khoa thần kinh học mà Bauerlein dẫn lại chỉ xác nhận điều những người mê truyện vẫn tự biết: khi ta đọc truyện, bộ não thôi làm kẻ đứng ngoài quan sát; nó tự mình diễn lại ý thức của kẻ khác, đến độ Anna lao vào đầu tàu thì vùng não điều khiển đôi chân người đọc cũng nhói lên theo. Tâm lý học đương thời gọi năng lực ấy bằng một cụm từ khá dài, là khả năng tái hiện trong tâm trí mình những gì đang diễn ra trong chính tâm trí kẻ khác. Nhà Phật mang đến một định nghĩa tương tự nhưng gọn ghẽ hơn, là tha tâm. Hai định nghĩa này được phân định bởi một điều: phép tha tâm này không đến từ thiền định; nó đến từ công phu luyện đọc.
Thế nhưng màn hình đâu chỉ có clip vài mươi giây; màn hình cũng kể chuyện, mà kể cách to tiếng và dõng dạc. Một cuốn phim công phu hay một loạt phim dài mấy mùa cũng đặt người xem vào phận người của kẻ khác; một trò chơi nhập vai mấy trăm giờ còn bắt họ sống thẳng cuộc đời ấy, chọn thay nhân vật từng nước đi, khóc cho một kẻ chưa từng có thật. Nếu đọc truyện luyện được phép tha tâm, thì cái màn hình biết kể chuyện kia hà cớ gì không luyện được? Phải nhường cho phản bác ấy phần đúng của nó: một cuốn phim lớn quả có làm, làm giỏi là đằng khác, một phần công việc. Nhưng cũng chỉ một phần. Máy quay ghi được cử chỉ hay biểu hiện bên ngoài, chứ không thể quay được một động cơ; nó không cho ta ngồi trong cái đầu đang toan tính điều gì ngoại trừ hành động của chính hắn, được trình diễn sau đó. Màn ảnh lại trao sẵn một khuôn mặt được rèn đúc và một giọng nói đã lồng; khúc nhạc nền ra tín hiệu trước rằng nên thương ai hay nên ghét ai. Tiểu thuyết thì không trao gì hết ngoài mực in trên giấy: muốn thấy cõi trong của nhân vật, người đọc phải tự tay dựng lấy nó, dòng ý thức này nối dòng ý thức khác, từ những nét mực câm lặng. Công phu nằm chính ở chỗ tự dựng ấy, chỗ mà ống kính điện ảnh đã kịp làm thay mất rồi.
Hay là ta đang vơ lấy một huyền thoại đẹp? Khoa học cũng đã có những bước nghiên cứu làm sáng tỏ. Năm 2013, một công trình trên Science đưa ra một kết luận: chỉ vài trang văn chương hư cấu đã đủ nâng ngay điểm trắc nghiệm dự đoán tâm ý người khác. Ba năm sau, ba phòng thí nghiệm gộp gần tám trăm người thực hiện lại nghiên cứu, hiệu ứng tức thời ấy biến mất; duy chỉ còn lại một điều: những ai cả đời đọc nhiều truyện thì vẫn đoán tâm ý người khác giỏi hơn, và một tổng phân tích năm 2017 kết luận rằng mối tương quan ấy có thật, tuy rằng khiêm tốn. Như vậy tổng quan lại là một liều tiểu thuyết không biến ai thành người thấu cảm; một đời đọc thì có, tuy nhỏ nhoi. Một luận đề chỉ đáng tin khi nó dựa trên những chứng cứ xác thực; và khi chứng cứ lộ diện, ngẫm cho cùng, lại đúng ý người xưa: đào luyện là chuyện mưa dầm thấm lâu chứ chẳng bao giờ rót một lần là xong.
Cái mưa dầm thấm lâu ấy đã được Lionel Trilling giới thiệu từ 1950, khi ông bảo tác nhân hữu hiệu nhất của trí tưởng luân lý thời hiện đại chính là cuốn tiểu thuyết của hai trăm năm qua. Sức mạnh của nó không nằm ở chỗ rao giảng điều thiện; nó nằm ở chỗ lôi chính người đọc vào cuộc, mời y đặt động cơ của mình lên bàn tra xét, và mách y rằng thực tại không như nền giáo dục khuôn phép của y vẫn trình bày. Kundera, sau này, nói lại cùng một điều bằng giọng Trung Âu: tinh thần của tiểu thuyết là tinh thần của sự phức tạp, và mỗi cuốn tiểu thuyết hay đều nói với người đọc rằng sự thể không đơn giản như anh tưởng. Cái mà truyện làm là đúc khuôn phần trong cùng của người đọc trước khi triết học hay luật pháp kịp đặt tay vào.
Vậy thì kẻ chưa từng được đúc khuôn kiểu ấy sẽ đọc người đồng loại bằng thứ công cụ gì? Bằng thể loại duy nhất còn lại trong tay y: cáo trạng. Bauerlein cho rằng thế hệ Millennial mà không đọc là kẻ nhìn đâu cũng thấy nhân vật phẳng: những sinh thể chỉ có bề mặt, mang lời nói không có vọng âm, ý đồ cứ thế phơi trần cả ra ngoài. Với con mắt ấy, tha nhân không còn là một bí mật phải dò xét mà trở thành một hồ sơ phải đánh giá: một câu lỡ miệng hay một từ dùng hớ là đủ để kết án. Cái mà người Mỹ gọi là cancel culture, người Công giáo Việt Nam có sẵn một cách dịch chính xác: vạ tuyệt thông, chỉ khác rằng đây là vạ tuyệt thông không giáo hội, không giáo luật, và cũng chẳng có ngày giải vạ. Bauerlein viết: cái tự sự anh đã nói một điều xấu, vậy chúng tôi khai trừ anh vĩnh viễn quá cứng nhắc và quá phẳng đối với ai đang dở chừng sống trong đầu một nhân vật của Ross Macdonald. Câu văn có dáng đùa mà không đùa chút nào: nó nói rằng lòng khoan thứ không có sẵn; nó là một kỹ năng, có thầy, có sách, có trường luyện. Trường luyện ấy, nước Mỹ của Bauerlein đã có hai trăm năm để xây và nửa thế kỷ để dẹp bỏ nó.
Chúng ta thì chưa từng có lấy hai trăm năm. Chúng ta có mười tám năm.
Mười tám năm ấy mở đầu bằng một lời thề. Năm 1924, giữa lễ kỷ niệm Nguyễn Du của hội Khai Trí Tiến Đức ở Hà Nội, Phạm Quỳnh đọc bài diễn thuyết bằng quốc văn, cụ kết bằng: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn”. Hậu thế truyền tụng câu ấy thường chép thừa vào một chữ thì đặng giữ nhịp xuôi tai, để đến lời thề giữ tiếng mà chính nó còn không được giữ gìn nguyên vẹn. Lời thề lập tức thành vụ án: Ngô Đức Kế rồi Huỳnh Thúc Kháng nổi giận mắng rằng đem quốc hồn gửi vào một chuyện tình là con đường ru ngủ chí khí. Cuộc cãi nhau ấy, sử văn học gọi là vụ án Truyện Kiều, thực chất là lần đầu tiên người Việt tranh luận công khai một câu hỏi rất hệ trọng: một quyển truyện có được phép cõng một quốc gia hay không.
Ai thắng cuộc cãi vã ấy hóa ra không quan trọng, vì ngay năm sau, câu trả lời tự đến. Năm 1925, Tố Tâm lên kệ, ba ngàn bản được bán sạch trong nửa tháng, một con số mà ngày nay nhiều nhà văn ta vẫn còn ao ước. Tác giả của nó viết cuốn ấy từ 1922, khi còn là sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm; lời giới thiệu in kèm phải rào đón trước với độc giả rằng đây là “một quyển tâm lý tiểu thuyết”, thể loại còn mới đến mức phải đem ra giới thiệu trước. Các cụ đồ mạt sát; báo chương một dạo đổ cho nó cái tội làm con gái mới biết chữ sinh chứng sầu não. Người ta chỉ hoảng hốt đến thế trước một cuốn sách khi cuốn sách ấy vừa làm được điều chưa từng có: nó mở cho người đọc An Nam cánh cửa vào cõi trong của một kẻ khác; và một khi đã theo chân vào tận bên trong một cô Tố Tâm, người ta không còn nhìn đám đông ngoài chợ như trước nữa.
Từ đó mọi việc diễn tiến nhanh cách lạ thường. Năm 1932 Nhất Linh nhận lại tờ Phong Hóa từ số 14; đầu năm 1934, văn đoàn của ông trình diện với bản tôn chỉ mười điều, trong đó có điều phải lúc nào cũng mới, trẻ, yêu đời, và một điều, lần đầu trong lịch sử văn bút nước ta, là buộc phải trọng tự do cá nhân. Năm 1937, Thạch Lam đề tựa tập truyện đầu tay, định nghĩa văn chương là một thứ khí giới thanh cao và đắc lực, vừa tố cáo cái thế giới giả dối tàn ác, vừa làm cho lòng người thêm trong sạch và phong phú. Năm 1942, Hoài Thanh nhìn lại và chỉ vào đúng trọng tâm cuộc biến: ngày trước là thời chữ ta, bây giờ là thời chữ tôi; rồi ông viết đoạn văn có lẽ đẹp nhất của phê bình Việt Nam:
“Đời chúng ta nằm trong vòng chữ tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu. Nhưng động tiên đã khép, tình yêu không bền, điên cuồng rồi tỉnh, say đắm vẫn bơ vơ. Ta ngơ ngẩn buồn trở về hồn ta cùng Huy Cận.”
Đoạn ấy nghe như một cuộc điểm danh thi sĩ, nhưng đó giống như tiếng lòng của một dân tộc vừa phát hiện ra rằng mỗi người trong nó có một cõi bên trong riêng, và cõi ấy sâu không đáy.
Đến năm 1943, trong một truyện ngắn đăng trên Tiểu thuyết thứ Bảy, một nhà văn nghèo cho nhân vật của mình (một nhà văn nghèo khác) nói ra chuẩn mực sau cùng: tác phẩm thật giá trị phải vượt lên bên trên mọi bờ cõi và giới hạn, phải chung cho cả loài người; nó ca tụng lòng thương, tình bác ái, sự công bình; “Nó làm cho người gần người hơn.” Bảy năm trước khi Trilling giảng ở New York về trí tưởng luân lý, Nam Cao đã nói trọn vẹn tinh thần ấy trong đôi chữ. Mười tám năm, từ Tố Tâm đến Đời thừa, quốc ngữ đi trọn con đường mà tiếng Pháp, tiếng Anh đi trong hai thế kỷ: từ chỗ phải xưng danh xin nhớ là một quyển tâm lý tiểu thuyết đến chỗ định nghĩa được thiên chức của cả một thể loại.
Thế rồi điện bị cắt lần thứ nhất.
Tháng Giêng 1956, tập Giai Phẩm mùa Xuân in bài thơ dài của Trần Dần, trong đó có mấy dòng về sau ai cũng biết:
Tôi bước đi không thấy phố không thấy nhà
Chỉ thấy mưa sa trên mầu cờ đỏ
Tháng Chín năm ấy báo Nhân Văn ra số đầu; được năm số thì đình bản. Đầu năm 1960, một phiên tòa xét xử Nguyễn Hữu Đang và Thụy An, mỗi người mười lăm năm tù. Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm, Phùng Quán - những người cầm bút vừa kịp trưởng thành trong mười tám năm nói trên - bị khai trừ, treo bút, đi lao động cải tạo. Nửa thế kỷ sau, năm 2007, chính Nhà nước trao Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật cho cả bốn: Lê Đạt và Hoàng Cầm nhận khi còn sống, còn Trần Dần và Phùng Quán được truy tặng. Phục hồi danh dự đến như nó vẫn thường đến: đúng thủ tục, và chậm nửa đời người.
Vậy thì chỗ trống này cần phải có một thứ khác lấp vào, đáng cười là người định nghĩa nó cũng từ hệ thống mà ra. Năm 1979, trên tuần báo Văn Nghệ, Hoàng Ngọc Hiến gọi nền văn chương ấy là chủ nghĩa hiện thực phải đạo: một nền văn chương trong đó sự mô tả cái phải tồn tại đè lên sự mô tả cái đang tồn tại, người viết lo trình bày đời sống cho phải phép hơn là cho chân thật. Mà một khi cái phải tồn tại cầm bút, nhân vật hết đường trở nên phức tạp: văn chương phải đạo là văn chương của nhân vật phẳng, được đúc quanh một ý và trung thành với ý ấy đến trang chót. Không nên nghĩ đây là chuyện riêng của một chế độ. Chính Nhất Linh vào cuối đời ở Sài Gòn, đã ngồi xét lại Đoạn tuyệt và tự kết án cái lối “tiểu thuyết luận đề” của mình là lầm lỗi lớn nhất đời văn; ông nhận rằng thuở ấy ông dùng nhân vật như những quân cờ để đánh một ván bài. Quy luật thể loại nó thế: hễ tiểu thuyết bị bắt phải chứng minh một điều, bất kể điều ấy của phe nào, cấp tiến hay bảo thủ, cách mạng hay phản đề, thì chính nhân vật là kẻ chết trước.
Bên kia vĩ tuyến, trong hai mươi năm, nhánh kia của truyền thống vẫn phát triển, mặc cho chiến tranh, kiểm duyệt và thị phi. Bếp lửa in năm 1957 ở Sài Gòn. Giữa thập niên sáu mươi, một cô giáo Đà Lạt ký bút danh Hoàng Đông Phương đăng dài kỳ trên Bách Khoa thiên truyện về mối tình cô giáo với cậu học trò; in thành sách năm 1966, in ra năm ngàn bản, tái bản bốn lần trong mấy tháng, và lãnh đủ một chiến dịch mắng mỏ là văn đồi trụy. Đó là Vòng tay học trò của Nguyễn Thị Hoàng, cho đến nay vẫn là cuộc thám hiểm nội tâm táo bạo bậc nhất mà văn xuôi ta từng dám in khi tác giả còn sống.
Rồi điện bị cắt lần thứ hai. Sau tháng Tư 1975, chiến dịch bài trừ văn hóa phẩm khởi phát từ cuối tháng Năm; đến tháng Mười, nhật báo thành phố công bố danh sách dài những tác giả bị cấm. Một nền văn học bị đưa ra khỏi lưu thông bằng một danh sách, chẳng cần đến một dòng phê bình nào.
Cửa sổ thứ ba mở ra cùng Đổi Mới, và mở rất nhanh. Mùa hè năm 1987, Tướng về hưu được đăng trên Văn Nghệ: lần đầu sau ba mươi năm, người đọc miền Bắc lại được gặp trên mặt báo chính thống một nhân vật không thể quy về phe nào. Cuối năm ấy, cũng trên tờ báo ấy, Nguyễn Minh Châu đăng bài với nhan đề: Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa. Ông tả người viết mấy mươi năm đi khom trong một hành lang hẹp và thấp trần, thủ sẵn hai cây bút, một cây để viết cho đời, một cây để viết cho phải phép; và ông nói rõ nền văn nghệ ông đưa tang ấy có cả trí tuệ, mồ hôi và máu của chính ông trong đó, lời ai điếu của người trong quan tài đọc cho mình, khác hẳn tiếng reo mừng của kẻ đứng ngoài đường. Năm 1990, một cựu binh in cuốn tiểu thuyết đầu tay dưới cái tên được nhà xuất bản chọn hộ: Thân phận của tình yêu; nó đạt giải thưởng Hội Nhà văn 1991, còn bản dịch tiếng Anh đoạt giải tiểu thuyết nước ngoài hay nhất ở London. Và gần như đúng lúc thế giới bắt đầu đọc Bảo Ninh, trong nước thôi in sách của ông. Hơn một thập niên sau đó, cuốn tiểu thuyết Việt Nam được thế giới biết đến nhiều nhất gần như vắng mặt trên kệ sách nước mình.
Ba lần, đồng hồ bị chặn đứng đúng lúc nó sắp điểm. Nhưng một truyền thống bị chặn không tan vào hư không. Nó được đem cất. Và chỗ cất kỹ nhất, trớ trêu thay, là học đường.
Năm 1943, cũng trong Đời thừa, Nam Cao đề sẵn một lời nguyền mà đến nay nó vẫn còn nguyên giá trị:
“Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay, làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho. Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi, và sáng tạo những cái gì chưa có.”
Ông không thể biết rằng hậu thế sẽ dựng nguyên một định chế quốc dân bằng đúng cái mà ông khai trừ: những kiểu mẫu có sẵn. Định chế ấy là văn mẫu.
Văn mẫu lớn hơn một tệ nạn học đường tầm thường như quay cóp nhiều. Nó là một nền sư phạm hoàn chỉnh, có lý luận ngầm hẳn hoi, và lý luận ấy đảo ngược từng điều một cái kỹ nghệ mà ta vừa tả. Tiểu thuyết bắt người đọc mày mò động cơ; còn văn mẫu phát trước động cơ đã được hoạch định. Tiểu thuyết dạy chịu đựng sự mơ hồ; văn mẫu dạy rằng mơ hồ là lỗi kỹ thuật. Còn chỗ mà tiểu thuyết mở ra, cái cửa vào bên trong một con người xa lạ, thì văn mẫu bắt học trò chép lại lời của một người chấm bài nào đó nó chưa từng quen. Đứa trẻ mười năm học văn theo lối ấy không hề bị bỏ đói năng lực tha tâm như đứa trẻ ôm màn hình bên Mỹ; nó được huấn luyện một phản xạ thay thế hẳn hoi: đứng trước một trang chữ chở một con người, câu hỏi bật ra không phải người này là ai mà ý này ăn mấy điểm. Cái đó vượt xa sự thất học; nó là phản đào luyện, từ của chính Bauerlein, nhưng ông dùng cho màn hình, còn ta đạt tới nó bằng phấn trắng bảng đen, trước khi chiếc điện thoại đầu tiên về làng. Đến mùa thu 2021, chính Bộ trưởng Giáo dục phải đề nghị các thầy cô “chấm dứt học theo văn mẫu, bài mẫu, dẫn tới triệt tiêu sự sáng tạo của thầy và trò”, một vị thượng thư phải ngỏ lời xin hệ thống của chính mình ngừng dạy giả.
Còn cái kho tàng của mười tám năm thì được xếp vào đâu trong ngôi trường ấy? Chương trình Ngữ văn hiện hành quy định sáu tác phẩm bắt buộc cho mười hai năm học: Nam quốc sơn hà, Hịch tướng sĩ, Bình Ngô đại cáo, Truyện Kiều, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, Tuyên ngôn Độc lập. Năm trong sáu là văn kiện dựng nước và giữ nước, toàn hùng văn mà đứa trẻ Việt nào cũng nên thuộc lòng. Nhưng chính sự tôn quý thuần nhất ấy để lộ quan niệm: văn chương, trong mắt của định chế, cốt để giữ nước; còn để dò người thì chưa từng được kể là quốc sự. Kiệt tác nội tâm duy nhất được đặt vào hàng bắt buộc là Truyện Kiều, cuốn mà Phạm Quỳnh đem ra thề, nay đã hơn hai trăm tuổi. Toàn bộ mười tám năm phát minh cái tôi, cùng Nguyễn Minh Châu, cùng Bảo Ninh, nằm ở tầng gợi ý: nghĩa là tùy nghi, nghĩa là tùy kỳ thi, mà kỳ thi thì đã có văn mẫu lo liệu.
Kết quả rõ là đong đếm được. Năm 2024, ngành xuất bản in 5,9 bản sách cho mỗi đầu người Việt. Nghe không tệ, cho đến khi biết ngót bốn phần năm số ấy là sách giáo khoa; phần còn lại chừng 1,3 bản. Giới làm sách nước ta từ lâu truyền nhau một ước tính buồn: trừ sách học ra, mỗi người Việt một năm đọc khoảng một cuốn. Cuộc khảo sát duy nhất tôi tìm được về sự không đọc, cho biết hơn một phần tư người Việt không đụng đến sách, lại do chính người thực hiện nó thừa nhận là làm chưa đến nơi; nghĩa là đến cả việc đo đạc sự thờ ơ của chính mình mà ta cũng chưa buồn đo cho tử tế. Trong khi đó người Việt online trung bình hơn sáu giờ mỗi ngày, và đứng hàng thứ năm thế giới về lượng công chúng TikTok. Bauerlein than rằng thiếu niên Mỹ năm 2010 chỉ đọc bảy phút mỗi ngày; ít nhất thì ông ấy còn có bảy phút để mà than.
Nhưng chớ tưởng cơn đói đã chết. Cơn đói tha tâm là cơn đói căn bản của giống người; khi không được dọn mâm cỗ, nó chuyển sang ăn cỗ giả, và sức ăn của nó làm kinh ngạc cả bộ máy quản lý. Truyện ngôn tình tràn kệ đến mức tháng Tư 2015, Cục Xuất bản phải ra công văn yêu cầu các nhà xuất bản tạm ngừng đăng ký thể loại này vì “sáo mòn, vô bổ, thậm chí thô tục, phản cảm”. Một nhà nước phải ra văn thư hành chính về chuyện yêu đương trong sách, chỉ vì cái kệ nội tâm đã bị bỏ trống quá lâu cho một mình nó. Còn Đắc nhân tâm tái bản đến lần thứ chín mươi. Cuốn sách ấy được chuyển ngữ sang tiếng Việt từ đầu thập niên năm mươi, bởi Nguyễn Hiến Lê, trong dòng sách ông gọi là Học làm người; thuở ấy nó được đọc như sách tu thân. Cùng một cuốn sách, người đọc năm xưa tìm cách sửa mình, còn người đọc hôm nay tìm cách vận hành kẻ khác; sách không đổi một chữ, chỉ có cái đói đổi nghĩa. Và Nguyễn Nhật Ánh, nhà văn duy nhất còn làm được điều mà Tố Tâm từng làm: hàng chục, hàng trăm ngàn bản sách được in cho những tác phẩm năm 2020 hay 2023, là những con số không nhà văn Việt nào khác dám mơ. Nguyễn Nhật Ánh chính là bằng chứng của cơn đói ấy, và là người giữ cánh cửa cuối cùng còn mở. Nhưng ta phải nhìn thẳng vào cánh cửa ấy: nó mở về tuổi thơ, cái miền nội tâm có trước chính trị, nơi chưa ai phản bội ai đến mức không thể tha thứ được, và chẳng ai cần phải đứng trước tòa. Một nền văn hóa mà chốn nương náu văn chương cuối cùng của nó là thời chưa thành người lớn, nền văn hóa ấy đang nói một điều rất rõ về đời sống người lớn của nó. Phần còn lại của cơn đói thì đã có máy móc lo cho: hàng triệu tài khoản nghe sách nói và sách tóm tắt, cõi trong ủy thác, thuê người trải nghiệm hộ mình cuốn tiểu thuyết, như thuê người ăn hộ mình bữa cơm.
Vậy thì tổng kết lại, ta có một học đường phát đáp án cho cảm xúc, một thị trường bán nội tâm đóng chai, một chiếc màn hình chờ sẵn sáu giờ mỗi ngày. Ra đời từ cỗ máy ấy là thế hệ đọc nhiều chữ nhất lịch sử nước ta, và có lẽ là thế hệ đầu tiên chưa từng được ai dạy cách đọc một con người. Mà không được dạy đọc người thì vẫn cứ phải xử người, hằng ngày, giữa chợ. Câu hỏi chỉ còn là: xử bằng thể loại gì.
Câu trả lời có sẵn trong lý thuyết văn học. Năm 1976, Peter Brooks viết cuốn khảo luận về melodrama, thể loại bi lụy kịch trường mà giới hàn lâm vẫn khinh là hàng chợ, và chứng minh rằng dưới lớp áo hàng chợ ấy là cả một thế giới quan. Melodrama ra đời trên đống gạch vụn của cái thiêng: khi nhà thờ, ngai vàng và các bậc thang giá trị cũ sụp xuống sau 1789, con người vẫn cần biết thiện ác nằm đâu nhưng không còn định chế nào đứng ra phán bảo, thế là sân khấu nhận lấy phần việc của nhà thờ. Kịch melodrama vận hành bằng một khát vọng mà Brooks gọi là khát vọng nói ra bằng hết: không được có bí mật, không được có lửng lơ, đức hạnh phải được minh oan trên sân khấu ngay đêm nay và kẻ gian phải bị lột mặt trước khi hạ màn. Nhân thế trong mắt nó chia làm hai phe không pha trộn. Người kế tục Brooks sau này gọi thẳng nhu cầu ấy là nhu cầu minh nhiên đạo đức: thiện ác phải đọc được tức khắc, bằng mắt thường, không cần mất công thăm dò. Melodrama chính là hình thức thẩm mỹ của lòng sốt ruột luân lý, một thể loại tự nhiên của mọi đám đông không được dạy chờ đợi.
Định nghĩa ấy viết cho sân khấu Paris thế kỷ mười chín mà vừa in cho công luận Việt Nam thế kỷ hai mươi mốt.
Buổi tối 25 tháng Năm 2021 là một ví dụ như thế. Vụ án này thì đã xử xong: người livestream lĩnh ba năm tù theo Điều 331, được giảm còn hai năm chín tháng, đã ra tù và tiếp tục livestream mặc cho bà đang ở hải ngoại. Công lý đã làm xong phần việc của nó. Còn nửa triệu người ngồi xem thì sao? Tôi không cho rằng nửa triệu người ấy u mê. Tôi cho rằng họ nhạy bén. Họ đánh hơi đúng chỗ nền công luận này thiếu và tìm đến đúng nơi có bán thứ ấy. Đêm ấy có đủ mọi thành phần của kịch trường Brooks tả: một nhân vật chính tự nhận vai người minh oan cho đức hạnh; những kẻ gian có tên có mặt, chờ được lột trần; lời hứa nói ra bằng hết, không nể nang, không úp mở; và một khối khán giả khổng lồ vừa là bồi thẩm đoàn vừa là dàn đồng ca, gõ xuống màn hình những phán quyết tức thời. Bóc phốt, chữ mới của tiếng ta, là dịch phẩm dân gian chính xác nhất của mỹ học melodrama: lột lớp vỏ để lộ cái ác đã biết trước; động từ ấy không chứa khả năng nào cho việc lột ra mà gặp một con người. Sao kê thì thành bí tích: như mọi thể loại thay thế tôn giáo, melodrama công luận cũng cần phép màu chứng thánh, và bảng liệt kê giao dịch ngân hàng, có số má trắng đen, không cãi được, là hình thức thị hiện mà thời đại này còn tin. Đám đông đêm ấy không đến xem một người đàn bà; họ đến dự một phiên xử mà đời không mở cho họ ở đâu khác: nơi duy nhất cái ác có tên, cái thiện có ngày minh oan, và mọi bản án đều tuyên trước bình minh.
Ai nhìn ra cơ chế ấy rồi sẽ thấy nó ở khắp nơi, dưới những y phục khác nhau, kể cả những y phục mềm mại nhất. Cộng đồng mạng là nhân vật tập thể mỗi tuần đòi một vai gian mới để tấn tuồng khỏi vãn. Những đêm cả nước đổ ra đường sau một trận bóng là melodrama khải hoàn, ở đó quốc gia được nếm trong vài giờ cái minh nhiên mà đời thường không cho: hôm nay ta thắng, kẻ thắng là ta, mọi phức tạp xin để mai. Và ở cực êm dịu nhất là chữa lành, tưởng là phản đề của đấu tố mà hóa ra chị em ruột: cũng chia nhân thế làm hai phe, chỉ đổi tên phe thành người làm tổn thương và người bị tổn thương, cũng miễn cho đương sự cái việc nặng nhọc nhất đời là dò vào cõi trong của kẻ đứng bên kia. Bauerlein gặp đúng cấu trúc ấy ở sinh viên của ông, những người tin rằng ai cũng đáng được hạnh phúc và mọi trở lực cho hạnh phúc đều phải có thủ phạm. Thế hệ Millennial của ông, mười năm trước còn được Pew tả là tự tin, cởi mở, tin vào sự thay đổi, mười năm sau tự đếm hàng chục lý do mà đời mình khốn khổ. Cơn giận bên ấy có học vị, cơn giận bên này có lượt xem; kịch mục thì khác nhau, bên ấy diễn utopia và vạ tuyệt thông, bên này diễn đấu tố và chữa lành, nhưng cùng chung một ánh nhìn vặn vẹo: nhìn đâu cũng chỉ thấy nhân vật phẳng.
Đến nước này, hai chữ dân trí chỉ là một lối nói lười biếng. Nửa triệu người xem đêm ấy không thiếu trí; họ thiếu trường luyện, cái trường mà nước ta đã ba lần khởi công và ba lần bị rút phép. Chê dân trí là chê người đói ăn vụng; còn hỏi ai đã ba lần dỡ mất nhà bếp thì mới là câu hỏi của phê bình.
May cho chúng ta, kho sách không tuyệt tự; nó chỉ nằm chờ.
Năm 1998, Nguyên Ngọc, người lính già của văn nghệ cách mạng ở tuổi 66, nguyên Tổng biên tập của chính tờ Văn Nghệ thời Tướng về hưu, ngồi dịch Kundera: Nghệ thuật tiểu thuyết, rồi ba năm sau là Những di chúc bị phản bội. Người từng cầm quân trong nền văn nghệ minh họa, cuối đời tự tay khuân về cho tiếng Việt đúng cuốn cẩm nang chống minh họa, cuốn sách dạy rằng tiểu thuyết chết ngay khoảnh khắc nó biết trước điều nó muốn chứng minh. Bản dịch ấy là một lời ai điếu nữa cho văn nghệ phải đạo, đọc bằng giọng của chính người trong cuộc, và là cây cầu bắc cho những người giữ kho tàng phía sau.
Rồi kho mở dần, theo cái nhịp riêng của xứ này: mỗi lần hé một cánh, mà cánh nào cũng kẹt. Năm 2007, bốn tập truyện Dương Nghiễm Mậu, nhà văn hiện sinh hàng đầu của Sài Gòn cũ, được in lại trong nước; một chiến dịch phê phán nổ ra trên mặt báo, người công kích hăng nhất chính là cây bút từng buộc tội Vòng tay học trò bốn mươi năm trước; sách lặng lẽ rút khỏi quầy, không cần một văn bản nào. Năm 2008, tập di cảo Trần Dần – Thơ vừa phát hành thì bị niêm phong vì một lỗi thủ tục hành chính, giấy phép ký chưa đúng cấp; hai tuần sau, quyết định chung thẩm là không thu hồi, chỉ phạt đơn vị liên kết gần đôi triệu đồng; đến cuối năm, cũng tập thơ ấy nhận giải thưởng của Hội Nhà văn Hà Nội. Trong một năm, cùng một cuốn sách vừa bị niêm phong vừa được trao giải; khó tìm ở đâu một bức chân dung gọn hơn về cơn dùng dằng của một nền văn hóa trước di sản của chính mình. Trong tập ấy có hai câu Trần Dần viết cho mình mà như viết sẵn cho những thế hệ đến sau:
Tôi khóc những chân trời không có người bay
Lại khóc những người bay không có chân trời
Người bay không có chân trời, còn định nghĩa nào sát hơn cho đám cháu của ông? Thừa cánh, thừa tốc độ, sáu giờ mỗi ngày lơ lửng trên không trung số, mà chân trời thì chưa ai kịp trao.
Bảo Ninh trở lại kệ sách trong nước từ giữa thập niên 2000, rồi từ 2011 yên vị hẳn. Năm 2021, hơn năm mươi năm sau trận đòn “đồi trụy”, bộ năm tiểu thuyết Nguyễn Thị Hoàng được in lại trang trọng; báo chí nhà nước phỏng vấn bà như phỏng vấn một bậc trưởng thượng. Và Nguyễn Huy Thiệp, người mà đám tang năm 2021 không một tờ báo nào dám bỏ, nay có mặt trong sách giáo khoa của cả ba bộ đang lưu hành. Chuỗi sự kiện ấy dễ đọc nhầm thành ân sủng, và sẽ có người muốn ta đọc thế. Thật ra đó là một cuộc đầu hàng từng phần của định chế trước cơn đói có thật, cơn đói mà thị trường và những người đọc lẻ loi kiên nhẫn chứng minh suốt mấy chục năm. Người ta không ban cho Nguyễn Thị Hoàng chỗ đứng; người ta thôi không còn cản nổi. Mỗi cuốn sách vượt ra khỏi khuôn khổ được trở về đều do độc giả cõng, không do ai khiêng kiệu.
Kundera, trong bài diễn từ nhận giải ở Jérusalem in cuối Nghệ thuật tiểu thuyết, qua giọng dịch của chính Nguyên Ngọc, để lại một định nghĩa dùng được làm thước đo cho mọi thể loại đang cai trị công luận ta: tiểu thuyết là thiên đường tưởng tượng của những cá nhân, lãnh thổ nơi không ai nắm chân lý, nhưng ở đó ai cũng có quyền được thấu hiểu, Anna lẫn Karénine. Ướm thước ấy vào từng thể loại một mà xem. Trong đấu tố, có kẻ nắm chân lý và có kẻ không được thấu hiểu. Trong văn mẫu, chân lý nằm sẵn ở đáp án và chẳng ai cần thấu hiểu ai. Trong chữa lành, ai cũng đòi được thấu hiểu mà không ai nhận việc thấu hiểu kẻ khác. Chỉ riêng cái lãnh thổ nơi hai vế đi liền, nơi không ai nắm chân lý và ai cũng có quyền được thấu hiểu, là vẫn bỏ ngỏ, vẫn chờ dân đến ở. Nó chờ suốt trăm năm nay.
Bauerlein kết sách bằng một bản án tử. Thế hệ của ông ấy hỏng rồi, ông viết; họ đã vĩnh viễn xa khỏi tuổi trẻ, nếp trí đã đông cứng trọn đời: they’re lost, they’re gone, it’s over for them. Đó là những dòng thành thật nhất cuốn sách, và cũng là những dòng sai nhất, vì bằng chứng bác bỏ nằm ngay trong sách, do chính tay Bauerlein chép. Chương ấy kể về một tù nhân hai mươi mấy tuổi, vốn liếng chữ nghĩa vẻn vẹn hai trăm từ đầu đường xó chợ, gặp trong khám một người tù già khiến cả trại, giám thị lẫn phạm nhân, phải im mà nghe, chỉ bằng lời nói. Anh ta xin học hàm thụ tiếng Anh, rồi tiếng Latin; rồi mượn cuốn từ điển, đóng hết các sách khác lại, và chép từng chữ, từng nghĩa, từ chữ aardvark trở đi, cho đến hết cuốn. Malcolm X bước vào nhà tù là một kẻ mà lý thuyết của Bauerlein phải khai tử ba lần; bước ra là một trong những nhà hùng biện lớn nhất của thế kỷ. Cuốn sách tự phản đối lại những trang cuối của nó, và tôi đứng về phía chương năm.
Đứng về phía ấy dễ hơn khi nhìn về phía chúng ta, dù cái dễ ấy giấu một cái bẫy. Người trẻ Mỹ của Bauerlein hỏng theo lối no giả: được nhồi đầy một thứ đào luyện ngược, tin chắc mình chẳng thiếu gì; chữa cho người no giả mới thật gian nan. Người trẻ Việt phần đông không no giả; họ đói và biết mình đói, bằng chứng là họ vồ lấy bất cứ thứ gì có mùi cõi trong, từ ngôn tình đến nhạc buồn đến các buổi livestream lúc nửa đêm. Đói thì khác mất: cái chưa từng được trao khác với cái từng có rồi để tuột, và người đói thì chưa hề chê cơm.
Song phải sòng phẳng với một nhận định rùng mình hơn cả Bauerlein: chưa từng có dân tộc nào đánh mất khả năng chú tâm ở quy mô đại chúng rồi lấy lại được. Toàn bộ niềm tin rằng cửa vẫn còn mở treo trên đúng một chữ, chữ chưa. Người Việt chưa từng được trao cái kho tàng, nên chưa đánh mất nó, nên nhận định kia chưa chắc đã phủ lên họ. Nhưng một chữ chưa chỉ là chỗ để đặt cược, và cược thì có thể thua. Bởi cùng lúc cái kho chưa kịp trao tay, sáu giờ mỗi ngày trên màn hình đang bào mòn dần chính cái năng lực dùng để tiếp nhận nó. Rất có thể một dân tộc vừa kịp đói đã mất luôn cái dạ dày. Chữ chưa có thể đứng được bao lâu, không ai biết.
Việc còn lại không phải là thêm một phong trào đọc sách; khẩu hiệu treo ngang đường tự nó đã là văn mẫu của văn hóa đọc. Cái phải làm là nhận lấy di sản theo lối người lớn nhận, chứ đừng theo lối thí sinh học. Nghĩa là mở Đời thừa ra, lần này gác lại chuyện dẫn chứng cho đề nghị luận, để một lần ở trọn trong đầu người đàn ông biết mình đang phụ vợ con từng bữa mà vẫn không dứt được giấc mộng lớn, rồi ngoảnh lại xem quanh mình có ai như Hộ, và mình đã kịp mắng họ chưa. Với Nỗi buồn chiến tranh, cái giá phải trả là hàng trăm trang sách ở trong một ý thức tan nát mãi không chịu tan hẳn, và cái được là từ đó nhìn những người đàn ông tuổi cha chú ngồi lặng bên bàn rượu bằng con mắt khác. Vòng tay học trò thì để nhớ có thời một người đàn bà viết thật lòng mình là đã đủ thành án, và để tự hỏi hôm nay, trên mạng, ta có đang ngồi vào đúng cái ghế quan tòa của Vũ Hạnh mà không hay. Kho đã mở, sách in đủ, không còn ai cấm; chỉ thiếu người vào nhận, và một thế hệ đủ đói để bước vào.
Có một ngày đáng ghi nhận trong cái tiến trình chậm chạp ấy. Ngày 26 tháng Sáu 2025, lứa học trò đầu tiên của chương trình mới bóc đề thi Ngữ văn tốt nghiệp và không thấy đề nào trong kho văn mẫu trúng tủ: ngữ liệu lấy từ một truyện ngắn ngoài mọi sách giáo khoa, của Nguyễn Minh Châu. Ba mươi tám năm sau khi ông xin được đọc lời ai điếu cho văn nghệ minh họa, một triệu đứa trẻ ngồi trước trang văn của ông mà không có đáp án nào phát sẵn. Buổi sáng hôm ấy chắc chắn có nhiều tiếng khóc, nhiều bài văn viết hỏng, nhiều phụ huynh phẫn nộ; các lò văn mẫu rồi cũng sẽ thích nghi, sẽ kịp soạn đáp án cho cả cái mới. Nhưng trong một nền giáo dục đã nửa thế kỷ phát sẵn mọi câu trả lời, có đúng một buổi sáng không ai biết một triệu đứa trẻ sẽ viết gì. Chỉ một buổi sáng đó thôi, rồi guồng máy quay lại chỗ cũ.
Một trăm lẻ hai năm trước, giữa Hà Nội, Phạm Quỳnh thề: Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn. Cụ nói ở thì hiện tại; cụ chia còn như thể nó là một trạng thái tự nó bền, một cổ vật cứ nằm yên trong tủ kính. Nó không nằm yên. Còn là một động từ phải chia lại ở mỗi thế hệ, bằng cái giá mỗi thế hệ phải trả: ngồi xuống, mở sách của người chết, và chịu để một kẻ xa lạ sống trong đầu mình ít lâu. Thế hệ này chưa trả, phần vì chưa ai đưa cái giá cho tử tế. Nhưng món hàng thì vẫn nguyên đó, gói trong thứ tiếng mà các thế hệ trước đã ba lần cứu khỏi lửa, và lời mô tả món hàng vẫn không ai viết gọn hơn được anh nhà văn nghèo năm 1943: nó làm cho người gần người hơn. Trong một nước mà người với người mỗi ngày một xa nhau, xa vì màn hình, vì những phiên tòa đám đông, và sau cùng vì cả những đáp án phát sẵn cho yêu lẫn ghét, thì câu ấy không còn là chuyện nghệ thuật viết văn. Đó là quốc sự.

Comments
Nothing yet. Say the first thing.
Sign in to join the conversation.